Cơn mưa chiều

Tôi cố rảo bước nhanh trên các vỉa hè dưới cái nóng như thiêu như đốt của buổi trưa Sài Gòn. Những tòa nhà cao tầng, các cây trụ điện cao ngút và hàng cây thưa thớt trên vỉa hè như cao hơn, lặng lẽ hơn, in đậm và rõ nét trên nền của bức tranh lửa vàng rực.
Mặt trời lúc này như đang đổ từng đợt nhiệt nóng bức bao trùm lấy thành phố tráng lệ. Hơi nóng bốc lên từ mặt đường trải nhựa cứ quấn lấy và níu kéo những bước chân của tôi, càng khiến nó rã rời và mệt mỏi. Duy chỉ có dòng xe cộ dưới đường là vẫn cứ mải miết ngược xuôi, cứ hối hả như cái bản chất vốn có của Sài thành. Bỗng nhiên, tôi cảm nhận được cái vội vã bất thường. Con người, xe cộ và mọi thứ bỗng trở nên gấp rút khi một cơn gió nặng trĩu hơi nước từ đâu thổi tới, kéo theo những luồng mây đen ngòm bao lấy mặt trời. Cái nắng chói chang vừa lúc nãy đã hoàn toàn nhường chỗ cho màu xám xịt ẩm ướt và tiếng gầm gừ của trời cao. Những giọt mưa đầu tiên vội vã rơi xuống mặt đường còn đang nóng hổi kêu lên xèo xèo, bốc hơi và quyện lẫn với hơi đất. Chẳng mấy chốc mà màn mưa trắng xóa đã muốt chửng các tòa nhà cao tầng, những cột điện bất động và những con đường. Dòng người lúc này vẫn vội vàng và tấp nập trong những chiếc áo mưa sặc sỡ như những cánh hoa đủ màu trôi dạt theo dòng nước.
Cơn mưa chiều đi qua cũng bất ngờ như lúc nó đến, không một dấu hiệu, không một lời chào, hệt như cái bản tính hối hả của Sài Gòn. Thành phố này vẫn trẻ, vẫn năng động và vẫn đẹp trong những cơn mưa buồn./.
Người viết: Thu Uyên

Thốt Nốt.

Thốt Nốt là một loại cây được trồng phổ biến ở Campuchia. Nó giống như biểu tượng của đất nước này. Ngoài ra, cũng được nhân dân miền Tây Nam bộ trồng. Vậy cây Thốt Nốt được người dân Campuchia sử dụng và khai thác như thế nào? Chúng ta cùng nhau đi tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé.
Cây Thốt Nốt còn gọi là Thnot, (theo tiếng Campuchia), Mak Tan Kok (theo tiếng Lào).
Thân cây hình cột trụ chia thành từng khoanh, có thể cao tới 30m, trên ngọn có một tán lá xòe rộng. Lá có cuống dài, lá màu xanh đậm, bóng mỡ trông tựa tàu lá Cọ. Cụm hoa là những bông mo, bông đực và bông cái mọc riêng lẻ. Bông mo đực to hơn, phân nhánh nhiều hơn. Quả Thốt Nốt to, tròn như quả Dừa, nhưng bên trong đặc, trong suốt thường chứa ba nhân cứng, dẹt, đầu có một lỗ thủng .
Cây Thốt Nốt chủ yếu mọc ở miền Nam, nhiều nhất là từ Tây Ninh đến Đồng Tháp, Kiên Giang. Ngoài ra, còn trồng ở Campuchia, Lào. Tại Campuchia, người ta trồng Thốt Nốt quanh nhà, ở góc vườn, dọc đường đi. Cây chịu cả khô hạn và ngập úng. Cây trồng bằng hạt, sống lâu hàng trăm năm, khi cây được 10-15 tuổi bắt đầu ra quả.
Tại Ấn Độ, người ta trồng cây Thốt Nốt trên quy mô lớn, mỗi tỉnh đủ sản xuất đến 15 tấn đường Thốt Nốt mỗi năm.
Thốt Nốt được trồng chủ yếu làm nguyên liệu chế đường rượu, một số ít được dùng làm thuốc. Những bộ phận được dùng làm thuốc bao gồm cuống cụm hoa, đường thốt nốt là dịch chảy ra từ cụm hoa, cây non, rễ.
Khi Thốt Nốt ra hoa, vào chiều tối, người ta buộc ống vào đầu cụm hoa, sau khi đã cắt một đoạn đầu hoa, bằng đốt ngón tay, để suốt một đêm thu được một lít nước Thốt Nốt. Nước Thốt Nốt lấy ban đêm ít chua, vị ngọt rất thơm, ủ với men nhẹ được thứ rượu nhẹ như bia, dùng men nặng hơn sẽ được rượu nặng. Cây thốt nốt đã lấy nước thì không cho quả nữa. Quả Thốt Nốt non ăn mát như thạch. Quả già có màu vàng thơm, mùi mít chín, nếu giã ra lọc thì sẽ được một thứ bột dẻo, trắng như bột nếp. Nhiều nơi đợi quả già, giã lấy bột làm bánh tôm, bánh ú hoặc nầu chè. Một cây Thốt Nốt cho từ 20-30 quả, đặc biệt có những cây 50-60 quả, cây đực không có quả, không có nước, nhưng vẫn có hoa, hoa ra được một tháng thì teo lại.
Cuống cụm hoa được nhân dân dùng làm thuốc chữa sốt và lợi tiểu, dùng trong những trường hợp kèm theo viêm tấy, sốt rét, lá lách to: cắt cuống cụm hoa thành từng miếng mỏng, cân 100g, thêm 600ml nước, đun sôi và giữ sôi trong 15 phút. Chia nhiều lần uống trong ngày. Cuống cụm hoa nướng nóng, vắt lấy nước, thêm đường mỗi sáng uống 100ml, uống luôn trong nhiều sáng có thể ra giun.
Nước chảy từ cụm hoa: sáng sớm, cắt cụm hoa lấy nước chảy ra mà uống làm thuốc nhuân tràng.
Đường thốt nốt ngoài công dụng làm chất ngọt, nhân dân Campuchia còn dùng làm đường thốt nốt làm vị thuốc giải chất độc do trường hợp giải chất độc do Mã Tiền. Thốt nốt non sắc uống chữa da vàng, lỵ, tiểu tiện khó khăn.
Rễ thốt nốt sắc uống làm thuốc lợi tiểu tiện như Thốt Nốt non. Mỗi ngày uống 50-60g dưới dạng thuốc sắc. Các bộ phận khác của cây thốt nốt cũng được sử dụng: thân cây dùng làm cột nhà, dầm cầu, ghe thuyền, lá dùng lợp nhà, làm nón, tước nhỏ lấy lạc buộc.
Cây Thốt Nốt quả thật đã mang lại rất nhiều lợi ích cho con người. Mong rằng, qua bài viết này sẽ mang lại nhiều giá trị cho các bạn. Chúc các bạn luôn vui và hạnh phúc.
Người viết: Hoàng Minh Trí

Cây Xương Sáo

Xương Sáo một cái tên quen thuộc của người dân miền Tây Nam Bộ. Đây là một món ăn giải nhiệt trong mùa hè oi bức. Vậy món ăn này được làm như thế nào? Và có tác dụng gì đến cơ thể chúng ta? Bài viết này sẽ giải đáp những thắc mắc cho quý bạn đọc gần xa.
Cây Xương Sáo còn gọi là cây Thạch Đen, Lương Phấn Thảo.
Cây nhỏ cao 40-60cm, lá mọc đối, 2 mặt lá đều có lông, mép lá có răng cưa, dài 2-4cm. Hoa màu hồng nhạt. Quả nhỏ hình trứng .
Cây mọc hoang dại và được trồng nhiều ở vùng An Giang (Châu Đốc) để làm thuốc và nấu thạch đen dùng uống cho mát.
Thu hái toàn cây trừ bỏ rễ. Mùa thu hoạch gần như quanh năm, nhưng chủ yếu vào mùa mưa.
Nhân dân miền Nam hay dùng thân và lá Xương Sáo nấu thạch đen ăn cho mát vào những ngày nắng nóng. Cách chế biến như sau: thân lá Xương Sáo xay thành bột, thêm nước vào nấu kĩ, lọc lấy nước. Thêm ít bột sắn hay bột gạo vào, nấu cho sôi lại, để nguội được 1 thứ keo đặc nhưng mềm, màu đen gọi là Lương Phấn, để cho đông và giòn, có khi người nấu còn thêm 1 ít nước tro (cacbonat kali) hay hàn the (borax).
Khi ăn, người ta cắt thành từng miếng nhỏ, có thể cho nước đường và dầu chuối vào cho thơm.
Còn dùng làm thuốc chữa cảm mạo, viêm khớp cấp, viêm thận, huyết áp cao, đái đường. Ngày dùng 15-20g dưới dạng thuốc sắc.
Trên đây, tôi vừa giới thiệu đến các bạn về cây Xương Sáo. Mong rằng các bạn luôn vui khi đọc bài viết này. Các bạn hãy chia sẻ những bài viết bổ ích này đến những người đang cần. Chúc quý bạn luôn may mắn và hạnh phúc mỗi ngày.
Người viết: Hoàng Minh Trí

Đậu Đỏ nhỏ

Bài viết này, tôi xin giới thiệu đến quý bạn đọc công dụng cũng như cách dùng Đậu Đỏ. Để các bạn có thêm sự lựa chọn cho bữa ăn hàng ngày của gia đình.
Đậu Đỏ còn gọi là Xích Tiều Đậu, Mao Sài Xich.
Là một cây thuộc loại thân thảo sống hằng năm, thân cây dài 1,5-2m. Lá kép gồm ba lá chét, lá chét đôi khi lại chia thành 3 thùy cắt nông, mặt dưới nhiều lông trắng dài. Mùa hạ ở nách có mọc hoa hình bướm. Quả nhỏ và dài, trên mặt có lông, trong chứa hạt nhỏ. Hạt hình bầu dục, hai đầu hơi dẹt, dài 2mm, đường kính 1,5mm vỏ màu nâu, hay tía nâu trơn bóng, nơi rốn ở phía trên hạt màu trắng vàng, hơi lồi, bóc vỏ đi thì nhân trong màu vàng lục, chất cứng dòn.
Đậu Đỏ vốn mọc hoang, vì cành lá nó rườm rà che rợp nắng làm cho cỏ Tranh không mọc lên được, trồng liền vài năm có thể trừ tiệt được giống cỏ Tranh cho nên ở Trung Quốc người ta còn gọi là Mào Sài Mễ.
Đậu đỏ chủ yếu mọc ở những vùng miền bắc Trung Quốc như Hà Bắc, Liêu Ninh, Sơn Đông. Vào mùa thu, khi quả chín người ta hái lấy quả đem về đập lấy hạt. Có nơi dùng loại Phan Xích Đậu thay cho đậu Đỏ, những hạt Phan Xích Đậu rộng, ngắn không có rốn lồi cao, còn hạt đậu Đỏ nhỏ hẹp dài có rốn lồi hơi cao. Cũng không nên nhầm với hạt Cam Thảo dây (Tương Tư Tử) có rốn màu đen. Khi dùng phơi hay sấy khô, tán nhỏ.
Theo tài liệu cổ, đậu Đỏ nhỏ có vị ngọt, chua, tính bình, vào hai kinh Tâm và Tiểu Trường. Có tác dụng lợi thủy, hành huyết tiêu thũng, bài nùng (loại mủ). Dùng chữa thủy thũng cước khí (phù), tả lỵ, ung nhọt sưng tấy.
Hiện nay được dùng chữa phù thũng, giã nát đắp lên nơi mụn nhọt, sưng tấy. Ngày dùng 20-40g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, dùng ngoài không kể liều lượng.
Trong phương pháp ăn thực dưỡng của người Nhật, thì đậu đỏ là một loại thực phẩm được khuyến khích sử dụng dưới nhiều hình thức chế biến khác nhau.
Theo các thống kê y học gần đây cho thấy, những người thường sử dụng đậu Đỏ có một hệ thống tuần hoàn rất tốt, đậu Đỏ có tác dụng làm sạch thành mạch máu, chống xơ cứng động mạch, hạn chế được các bệnh về tim mạch, huyết áp.
Đậu Đỏ vừa dùng làm thực phẩm hàng ngày vừa có tác dụng trong phòng và điều trị bệnh tật. Các bạn có thể tăng cường sử dụng đậu Đỏ bằng cách cho đậu Đỏ vào thực đơn mỗi ngày để có một sức khỏe tốt hơn. Mong rằng các bạn có thể tìm thấy những giá trị cần thiết qua bài viết này. Chúc các bạn luôn may mắn trong cuộc sống mỗi ngày.
Người viết: Hoàng Minh Trí

Trắc Bách Diệp

Trắc bách diệp được trồng nhiều để làm cảnh, với hình thù kỳ lạ, trắc bách diệp luôn được người dân ưa chuộng và chọn trồng làm cảnh để tăng thêm vẻ tao nhã cho cảnh quan. Trong giới học trò, nhất là đối với các bạn lười học bài, thường hái một nhánh lá trách bách diệp kẹp vào sách vở để mong thuộc bài nhanh. Vì vậy, trách bách diệp còn có tên là cây thuộc bài trong giới học sinh. Ngoài những ứng dụng trên, cây trắc bách diệp còn được các thầy thuốc đông y dùng để điều trị bệnh tật rất hiệu quả. Đây là một vị thuốc rẻ tiền, dễ tìm và dễ sử dụng. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu một số công dụng và cách dùng trắc bách diệp trong y hoc phương đông nhé.
Cây còn có tên là bá tử nhân. Người ta dùng cành và lá phơi hay sấy khô của cây trắc bạch diệp. Cây này còn cho vị thuốc có tên bá tử nhân là nhân hạt phơi hay sấy khô của cây trắc bách diệp.
Trắc bách diệp là 1 cây có thể cao tới 6-8m. Thân phân nhánh nhiều trong những mặt thẳng đứng làm cho cây có dáng đặc biệt. Lá mọc đối, dẹp hình vẩy. Nón hình trứng 6-8 vẩy dày. Hạt hình trứng, không có cạnh, màu nâu sẫm, có 1 sẹo rộng màu nhạt hơn ở phía dưới. Mùa hoa tháng 4. Mùa quả tháng 9-10.
Cây được trồng ở khắp nơi để làm cảnh và làm thuốc. Còn mọc ở Trung Quốc, Liên Xô cũ (vùng Capcazơ). Lá có thể hái quanh năm, nhưng tốt nhất là vào tháng 9-11, hái cả cành, cắt bỏ cành to, phơi khô trong mát.
Hạt trắc bách diệp được thu hái vào mùa thu, mùa đông, phơi khô, xát bỏ vẩy ngoài, lấy nhân phơi khô làm thuốc.
Theo tài liệu cổ, Trắc Bách Diệp có vị đắng, chát, hơi hàn, vào 3 kinh Phế, Can, Đại Tràng. Có tác dụng lương huyết, cầm máu, thanh huyết phận thấp nhiệt, chữa thổ huyết, chảy máu cam, lỵ ra máu, không thấp nhiệt cấm dùng.
Bá Tử Nhân có vị ngọt, tính bình, vào hai kinh Tâm và Tỳ, có tác dụng bổ Tâm, Tỳ định thần, chỉ hãn, nhuận táo, thông tiện. Dùng chữa hồi hộp mất ngủ, hay quên, người yếu ra mồ hôi, táo bón. tiêu phân lỏng, nhiều đờm cấm dùng.
Thường chỉ mới dùng trong y học nhân dân. Nhân dân dùng Trắc Bách Diệp với liều 6-12g làm:Trắc Bách Diệp dùng làm thuốc cầm máu trong các trường hợp thổ huyết, chảy máu cam, ho ra máu, tiểu tiện ra máu, tử cung xuất huyết.
Còn dùng trong các bệnh như: xích bạch đới,lợi tiểu tiện, chữa ho, sốt, chất đắng giúp sự tiêu hóa tốt hơn.
Bá Tử Nhân được dùng làm thuốc bổ Tâm Tỳ, định thần, nhuận táo, thông tiểu tiện dưới dạng thuốc viên với liều 4-12g.
Trắc Bách Diệp là một loại cây dễ trồng, vừa có thể trang trí cảnh quan, vừa dùng để làm thuốc. Nếu có thể các bạn nên xem xét trồng một cây trong sân nhà để tiện trong việc sử dụng.
Qua bài viết này mong rằng các bạn sẽ có thêm những kiến thức cần thiết về cây Trách Bách Diệp. Chúc các bạn luôn thành công trong công việc hàng
ngày.
Người viết: Hoàng Minh Trí

Vạn tuế

Vạn tuế được trồng để làm cây trang trí trong sân nhà, các cơ quan công sở, nơi đền chùa, lăng tẩm. Nó là một loại cây mang biểu tượng cho sự trường thọ. Ngoài giá trị trong việc trang trí, cây vạn tuế còn được dùng làm thuốc điều trị bệnh trong y học cổ truyền. Cây vạn tuế được dùng làm thuốc như thế nào? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé.
Tên gọi khác là thiết trụ, phong mao tùng, phong mao tiêu,…
Cây có thân hình trụ, cao từ 2- 3m, lá mọc vòng, dài từ 1-2m, có hình lông chim, cuốn lá có gai, lá chét dài từ 15-20cm, rộng 6mm, nhỏ dần về phía gốc và ngọn lá, mọc đối, mặt lá nhẵn, có hình sợi chỉ, mép lá cuốn lại, có gân lồi. Cây vạn tuế sinh sản bằng nón. Hạt có hình trái xoan dẹt, có màu da cam, dài 3cm.
Trong sách bản thảo cương mục thập di, có ghi lại cây vạn tuế được dùng làm thuốc với tên thiết trụ, trong thực vật danh thực đồ thảo có tên phong mao tiêu. Người ta dùng lá tươi hoặc lá khô làm thuốc, hạt cũng được dùng làm thuốc. Thu hái vào mùa hạ và thu.
Theo các tài liệu cổ, lá vạn tuế có vị ngọt tính ôn. Có tác dụng thu liễm, cầm máu, giảm đau. Hạt có độc, dùng hạt với tác dụng cố tinh, sáp đới ( làm cho tinh khí lâu xuất, làm sạch khí hư)
Người ta thường dùng lá chữa các chứng chảy máu như: chảy máu cam, chữa lỵ, đau dạ dày. Chữa đau lưng, đau nhức ở khớp xương. Hạt dùng trong trường hợp hoạt tinh, khí hư, bị thương đau đớn. Lá dùng với liều lượng từ 12-40g, đốt cháy thành than hoặc sắc lấy nước uống. Hạt chỉ nên dùng từ 1-2 hạt, sắc lấy nước uống.
Xung quanh chúng ta luôn có những điều bất ngờ đúng không các bạn? Một loại cây tưởng chừng như chỉ để làm cảnh trang trí, nhưng lại có những công dụng chữa bệnh rất tốt. Thiên nhiên luôn ban tặng cho con người những điều tốt đẹp đúng không? Mong rằng các bạn có thêm nhiều kiến thức bổ ích từ bài viết này. Chúc các bạn luôn vui và hạnh phúc mỗi ngày.
Người viết: Hoàng Minh Trí

Rau muống

“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dằm tương”
Quả thật, cây rau muống đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của con người Việt Nam. Vậy cây rau muống ngoài công dụng làm thực phẩm quen thuộc hàng ngày thì nó còn các ứng dụng nào khác cho y học hay không? Bài viết này sẽ giải những vấn đề về cây rau muống.
Rau muống hay còn có tên gọi khác là bìm bìm nước, thông tâm thái. Cây mọc bò trên mặt nước hay bò trên cạn, thân rỗng, chia thành nhiều đốt, mặt ngoài nhẵn. Lá có hình ba cạnh, đầu nhọn, có khi hẹp và dài, phiến lá dài từ 7-9cm, rộng từ 3-7cm, cuốn lá nhẵn dài từ 3-6 cm. Hoa to, tròn, có màu trắng, ống hoa màu tím nhạt, mọc từ một đến 2 hoa trên một cuốn. Quả có hình cầu, đường kính 7-9mm. Mọc hoang hoặc được trồng khắp nơi trong cả nước. Rau muống là một loại thực phẩm hằng ngày của người dân Việt Nam. Ngoài ra rau muống còn được dùng làm thuốc, chủ yếu để giải độc, làm mất tác dụng của một số loại thuốc chữa bệnh khác. Đối với những người khi lần đầu dùng rau muống sẽ thấy tác dụng nhuận trường nhẹ.
Trong điều trị zona, người ta dùng ngọn non của cây rau muống và ngọn của cây vòi voi giã nát đắp lên vết loét của bệnh nhân.
Dùng thân và lá rau muống, mướp đắng, lá xoan tất cả mang giã nát, đắp lên ngực hay lên trán của người sốt cao có triệu chứng khó thở.
Một số nghiên cứu khoa học gần đây đã tìm thấy ở rau muống có hoạt chất giống như Insulin, nên rau muống dùng cho bệnh nhân tiểu đường rất phù hợp.
Hàm lượng các chất khoáng như Ca, P và sắt rất cao. Vì vây khi dùng nước rau muống luộc, người ta hay vắt thêm chanh vào để tăng khả năng hấp thu và chuyển hóa ion sắt.
Rau muống có tác dụng giải độc và làm mất tác dụng của một số loại thuốc. Vì lý do đó trong quá trình điều trị một số bệnh lí bằng thuốc, chúng ta không nên sử dụng rau muống dưới mọi hình thức, để tránh làm mất tác dụng của thuốc chữa bệnh. Chúng ta cũng có thể ứng dụng điều này vào việc giải trừ độc tố của thuốc khi uống thuốc quá liều.
Bài viết này, tôi đã trình bày công dụng và cách dùng của cây rau muống trong môt số trường hợp bệnh lí quen thuộc hàng ngày. Hy vọng qua bài viết này chúng ta có thêm được nhiều thông tin giá trị. Chúc các bạn luôn vui vẻ và hạnh phúc mỗi ngày.
Người viết: Hoàng minh Trí

Hẹ

Hẹ là một loại rau dùng trong các bữa ăn của người dân Viêt Nam. Ngoài công dụng làm rau ăn hàng ngày hẹ còn được dùng nhiều trong y học cổ truyền để điều trị và phòng ngừa một số bệnh lí thường gặp. Công dụng và cách dùng hẹ trong y học như thế nào? Qua bài viết này, tôi xin được trình bày cho các bạn, mong rằng qua bài viết này mỗi người chúng ta có thể sử dụng hẹ một cách hợp lý và hiệu quả.
Hẹ thuộc họ hanh tỏi. Có tên gọi khác là cửu thái, phát cát ngân, cá nhân thái, trường sinh cửu, …
Hẹ là một loại cây thân thảo cao từ 20-45cm, toàn thân có mùi thơm đặc biệt. Rễ chùm. Gân lá hình song song. Hoa mọc trên một cành mọc lên từ gốc, tụ thành chùm, hoa có màu trắng.
Nước ép từ cây hẹ có tác dụng kháng khuẩn mạnh đối với nhiều chủng loại vi khuẩn khác nhau. Tính chất kháng sinh này rất bền vững, nước ép từ hẹ không cay và nóng như tỏi nên dễ dùng cho trẻ em. Tính chất kháng sinh của hẹ chỉ mất một ít khi chịu tác dụng của pepsin, mất hoàn toàn khi bị đun nóng.
Nước ép hẹ tươi có tác dụng diệt trùng roi trong âm đạo sau khi tiếp xúc 30 phút.
Theo kinh nghiệm dân gian, lá và thân hẹ tươi dùng để chũa ho, hen suyễn, tiêu hóa kém, giun kim, lỵ, amip, ra mồ hôi trộm. Liều dùng hằng ngày từ 20-30g.
Hạt hẹ có tác dụng chữa chứng di mộng tinh, tiểu són, đái dầm, đau lưng, mỏi gối, khí hư. Dùng với liều 4-12g. Tính vị của hạt hẹ hơi cay, chua, hơi the, tính ấm, sáp có mùi hăng. Vào hai kinh Can, Thận.
Không nên dùng lá hẹ với mật ong, thịt trâu bò.
Dùng lá hẹ nấu canh với cá Diếc chữa dứt điểm bệnh lỵ.
Lấy gốc hẹ cho vào các thuốc nấu cao bôi lên tóc chúng ta sẽ có được mái tóc đen mượt..
Tai viêm, có mùi hôi, rỉ nước vàng thường xuyên, lấy nước cốt hẹ nhỏ vào ngày 3-4 lần, tình trạng bệnh sẽ được cải thiện.
Nếu bạn bị sâu răng, lấy củ hẹ 10 củ, xuyên tiêu 20 hạt, một ít dầu mè, giã nhuyễn, bôi vào răng bị sâu.
Ngộ độc thực phẩm, ngộ độc thuốc, chúng ta dùng nước hẹ uống thật nhiều độc tố sẽ được giải trừ.
Nếu bị các loại côn trùng chui vào lỗ tai, dùng nước cốt hẹ nhỏ vào thì côn trùng sẽ ra ngay.
Các ngón tay bị dị ứng sơn, lấy lá hẹ vò nát, xát vào các đầu ngón tay.
Bị gai nhọn đâm dưới nước hoặc bị gai đâm sau đó xuống nước gây sưng tấy, đau, làm mủ, dùng hẹ nấu nước, lấy bả đắp vào nơi đau, bạn sẽ cảm thấy hiệu quả rõ ràng.
Trên đây, tôi vừa giới thiệu đến các bạn công dụng cũng như cách dùng của cây hẹ trong phòng và điều trị bệnh, mong rằng các bạn nhận được nhiều giá trị từ bài viết này. Chúc các bạn và gia đình có nhiều sức khỏe và thành công trong cuộc sống.
Người viết: Hoàng Minh Trí

4 SAI LẦM KHI ĐẶT MẬT KHẨU MÀ BẠN NÊN TRÁNH

Chắc hẳn những ai đang sở hữu cho riêng mình những thiết bị có kết nối Internet, dù chỉ ít nhất một thiết bị, đều đang sở hữu tối thiểu một tài khoản trên mạng. Điều đó gần như là bắt buộc, bởi vì khi có cho mình một tài khoản của bất kì đơn vị nào thì chính chủ nhân của nó sẽ nhận được rất nhiều ưu đãi đến từ nhà sản xuất đó. Và bạn có để ý rằng khi tạo bất kì một tài khoản nào, điều gần như bắt buộc là phải có mật khẩu. Đúng thế, nhưng mà không phải ai cũng biết và tránh được những sai lầm khi làm thao tác đơn giản nầy, để có thể bảo vệ tài khoản của bạn khỏi những cuộc tấn công trên mạng. Các bạn hãy cùng mình khám phá xem những sai lầm khi đặt mật khẩu là gì .
• Luôn duy trì trạng thái đăng nhập tài khoản:
Việc bạn sử dụng một chiếc máy vi tính, điện thoại thông minh hay máy tính bảng để đăng nhập và sử dụng tài khoản trên Internet là điều cực kì tiện lợi, và bạn cũng sẽ nhận thấy rằng việc không đăng xuất tài khoản trên các thiết bị mình đang sử dụng là điều quá sức tiện lợi, vừa tiết kiệm thời gian, đỡ phải mất công nhập đi nhập lại user name và password. Đó là một điều tai hại, giả sử như bạn đang bận một việc gì đó, mà có người khác cầm được thiết bị đang còn sáng màn hình, thì chuyện gì sẽ xảy ra? Nếu bạn hên thì họ chỉ xem một xíu rồi trả lại, còn xui thì họ vào tài khoản của bạn rồi đổi mật khẩu, … Thế là xong, bao nhiêu thông tin cá nhân, thậm chí là tài khoản của bạn sẽ không còn là của bạn nữa. Vậy nên sau khi sử dụng xong tài khoản nào đó, bạn chịu khó đăng xuất ra, và đến khi cần dùng thì nhập thông tin cần thiết để đăng nhập. Điều nầy sẽ đảm bảo cho tài khoản của bạn luôn được an toàn.
• Sử dụng mật khẩu quá đơn giản:
Phần đông mọi người thường lựa chọn một mật khẩu đơn giản dễ nhớ, như là ngày tháng năm sinh, hay số điện thoại cá nhân, hơn là một mật khẩu dài, bao gồm số và chữ lẫn lộn. Nhưng điều nầy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những người có ý đồ xấu xâm nhập vào tài khoản của bạn, nhất là khi họ có được số điện thoại hoặc là ngày tháng năm sinh của bạn. Nói tới đây thì bạn cũng biết là nên chọn lựa loại mật khẩu nào rồi đúng không? Bạn có thể sử dụng một dạng mật khẩu với chữ hoa, chữ thường và cả số lẫn lộn vào nhau, kèm theo là một kí tự đặc biệt ví dụ như là dấu thăng, dấu sao, dấu a móc,… Một mẹo nhỏ mà mình đang áp dụng khi đặt mật khẩu đó chính là tìm các từ rồi ghép chúng lại thành một câu, và câu đó hoàn toàn không có ý nghĩa.
• Sử dụng cùng một mật khẩu cho nhiều tài khoản:
Đây cũng là một trong những sai lầm mà nhiều người thường mắc phải. Việc phải nhớ quá nhiều mật khẩu sẽ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, đôi khi là nhớ lung tung nữa. Điều đó đúng nhưng không tốt chút nào, bởi vì khi có người biết được mật khẩu của bạn, thì họ có thể dễ dàng đăng nhập vào tất cả những tài khoản mà bạn đang sở hữu. Bạn cố gắng tạo nhiều mật khẩu cho nhiều tài khoản thì sẽ an toàn hơn nhiều.
• Không nên lấy tên một bộ phim, một quyển sách, một nhân vật nổi tiếng để đặt mật khẩu. Các từ hoặc cụm từ ấy sẽ là một trong số những lựa chọn số 1 cho các hacker, các ứng dụng dò mật khẩu.
• Không sử dụng xác thực hai yếu tố:
Ngày nay, một số trang web đã cung cấp tính năng xác thực hai yếu tố. Đây là tính năng sẽ xác thực thông tin đăng nhập của người dùng bằng việc gửi mã sms hay gọi điện thoại đến số di động đã đăng kí tài khoản sau khi đã tạo mật khẩu xong. Bạn hãy tìm và sử dụng tính năng này để góp phần vào việc bảo vệ tài khoản của chính mình.
Việc sử dụng mật khẩu mạnh sẽ bảo vệ thông tin cá nhân của bạn khỏi những hacker và các phần mềm dò mật khẩu. Vì thế, hãy lựa chọn và sử dụng loại mật khẩu sao cho thật phức tạp nhé. Chúc các bạn sẽ lựa chọn được cho mình một giải pháp để bảo vệ tốt nhất tài khoản của mình.
Người viết: Lôi Trường Giang

Dấp cá

Ngoài công dụng làm rau ăn hằng ngày, dấp cá còn là một vị thuốc có nhiều công dụng trong điều trị bệnh. Dấp cá có tác dụng gì? Cách thức sử dụng như thế nào? Bài viết này sẽ chia sẻ những bài thuốc chữa một số bệnh thường gặp từ cây dấp cá.
Cây dấp cá còn có tên gọi khác là sầm thảo, tập thái, ngư tinh thảo, diếp cá, dấp cá, lá giấp,….
Có thể dùng tất cả các bộ phận cây dấp cá, trừ rể cây để làm thuốc.
Cây dấp cá có thân cong, nhỏ, dài khoảng 33cm, có màu vàng nâu, thân không có lông, có mấy đường sọc dọc thân. Lá mọc cách, hình trái tim, có cuốn dài, đầu lá nhọn, mép không có răn, dễ rách. Cuốn hoa dài 1-3cm, mọc ở đầu cành, hoa có màu nâu vàng nhạt có mùi tanh.
Thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là vào mùa Hạ, khi cây xanh tốt có nhiều cụm quả. Lúc trời khô ráo cắt lấy phần trên mặt đất, loại bỏ gốc rễ. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô.
Sau khi phơi hoặc sấy khô, chúng ta bảo quản thuốc nơi khô ráo, thoáng mát, tránh nơi nóng ẩm.
Dấp cá có vị cay, chua, tính hơi hàn.Vào hai kinh Can và Phế.
Nước sắc dấp cá có tác dụng kháng sự phát triển của virus cúm và virus Echo ở người, liều cao khoảng 80g có tác dụng trong điều trị phổi bị áp se.
Nước cốt cây dấp cá khi dùng ngoài da có tác dụng chữa một số bệnh ngoài da, đặc biệt là với Hespes đơn thuần.
Chữa trĩ ra máu ta dùng dấp cá 2kg, bạch cập 1kg, mang sấy khô tán bột ngày uống 12g chia làm 2-3 lần uống. Hoặc dùng 500g dấp cá tươi nấu thành nước rồi ngâm trĩ, làm thường xuyên cho đến khi bệnh hồi phục.
Dấp cá có tác dụng làm bền thành mạch, nên có hiệu quả rất cao trong việc phòng ngừa tai biến do vỡ mạch máu não.
Tiêu chảy, lỵ vào mùa hè, ruột viêm cấp dùng dấp cá tươi 80g sắc nước cho thêm ít đường rồi uống.
Chữa áp se phổi, dùng dấp cá 40g, cát cánh 20g, sắc uống. Hay dấp cá 80g tươi, hoa phù dung tươi 40g sắc uống.
Trị lao phổi, ho khạc ra máu đàm tanh, dấp cá 40g, trứng gà ta 1 quả. Ngâm ngư tinh thảo với nước 1 giờ, sắc lấy nước (nấu sôi khoảng 15 phút), bỏ bã, lấy nước bỏ trứng gà vào khuấy đều. Uống mỗi ngày 1 lần, liên tục từ 20-30 ngày.
Chữa phổi áp se, ho ra mủ và máu, dùng dấp cá tươi 80g, phổi heo 1 cái, nấu chung cho nhừ, sau đó ăn phổi heo và uống nước thuốc. 2-3 ngày dùng một lần, ăn như thế 3-5 lần.
Dùng dấp cá lâu ngày sẽ sinh ra chứng suy nhược, tổn thương dương khí, tiêu tinh tủy. Đối với các bệnh nhân hư hàn, mụn nhọt thể âm không dùng.
Trên đây, tôi vừa chia sẻ những vấn đề cơ bản nhất về cây dấp cá, những công dụng và bài thuốc chữa một bệnh lý thông thường mà chúng ta có thể dễ dàng thực hiện tại nhà. Xin chúc các bạn luôn vui và hạnh phúc mỗi ngày.
Người viết: Hoàng Minh Trí