Cỏ tranh

Cỏ tranh là một loại cỏ mọc hoang dại ở khắp các vùng đồi núi, là một loại cây làm ảnh hưởng đến năng suất của các loại cây trồng khác. Bên cạnh những mặt hại, thì cỏ tranh có rất nhiều ứng dung trong thực tiễn đời sống như làm thức ăn cho trâu bò, ngựa, vật liệu làm nhà ở. Trong thời kỳ chiến tranh, do bị giặc vây hãm, dân ta đã dùng cỏ tranh đốt thành tro để dùng thay muối ăn. Ngoài ra, cỏ tranh còn là một vị thuốc dùng để chữa các bệnh lý của con người. Vậy cỏ tranh có những công dụng dược lý gì? Sử dụng như thế nào? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé!
Cỏ tranh hay còn gọi là cỏ mao. Thuộc họ lúa poaceae (gramineae).
Cây cỏ tranh là một loại cỏ sống dai, thân rễ khỏe chắc. Thân cao 30-90cm, lá hẹp dài 15-30cm, rộng 3-6mm, gân lá ở giữa phát triển, ráp ở mặt trên, nhẵn ở mặt dưới, mép lá sắc, cụm hoa hình chùy nhưng hình bắp dài 5-20cm màu trắng bạc, bông nhỏ phủ đầy lông nhỏ niềm, rất dài.
Theo tài liệu cổ: bạch mao căn có vị ngọt tính hàn, hoa có vị ngọt tính ôn. Vào ba kinh Tâm, Tì và Vị. Có tác dụng trừ phục nhiệt, tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện, dùng chữa nội nhiệt phiền khái, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu, thổ huyết, chảy máu cam.
Rễ cỏ tranh có tác dụng thông tiểu tiện và tẩy độc cơ thể. Còn dùng chữa sốt nóng, khát nước, niệu huyết, thổ huyết.
Liều dùng 10-40g dưới dạng thuốc sắc.
Đơn thuốc có cỏ tranh
Chè lợi tiểu: râu ngô 40g, xa tiền 25g, rễ cỏ tranh 30g, hoa cúc 5g. Tất cả thái nhỏ, trộn đều. Mỗi lần cân 50g pha thành 0,75 lít nước, chia uống trong ngày vào lúc khát.
Trẻ em 6-14 tuổi, ngày cân 25g pha với 350ml, chia uống trong ngày vào lúc khát.
Như thần thang (thánh huê phương) chữa phổi nóng, ho cò cử: sinh mao căn sắc uống lúc còn nóng sau bữa ăn.
Ma căn thang, chữa đái ra máu: bạch mao căn, khương thán, thêm mật ong trắng, sắc uống .
Chúng ta chú ý không dùng rễ hoặc bất kỳ bộ phận nào của cây cỏ tranh mọc gần cây xoan, cây lim hay một số loại cây có độc khác, vì như thế cỏ tranh sẽ mang một hàm lượng độc tố nhất định gây hại đến sức khỏe người dùng.
Trên đây là một số thông tin cần thiết khi sử dụng cây cỏ tranh làm thuốc chữa bệnh. Mong rằng các bạn có thể tìm thấy những thông tin bổ ích từ bài viết này. Chúc các bạn luôn may mắn và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí

Lời hứa mùa Trung thu

Mấy hôm trước Nhóm Thiện Nguyện Hạc Giấy đã đến ấp Tà Dơ, Tân Thành, Tân Châu,Tây Ninh, cách thành phố Hồ Chí Minh 130 km để khảo sát một ngôi Làng nhỏ, thường được gọi là Làng Việt Kiều Campuchia. Họ có thời gian rất dài sinh sống trên biển Hồ Campuchia, họ sống bằng nghề đánh bắt cá. Mấy năm gần đây vì chính quyền bên đó bắt ép nên họ đã trở về bờ hồ Dầu Tiếng, thuộc tỉnh Tây Ninh, cất những ngôi nhà nhỏ để sinh sống.
Mất hơn ba giờ đồng hồ để chúng tôi chạy honda từ sài gòn về Tây Ninh. Khi tới được đây thì mặt trời cũng đã đứng bóng. Hiện ra trước mắt chúng tôi là một ngôi làng trải dọc trên bờ hồ,với những ngôi nhà nhỏ san sát nhau. Tôi cũng không chắc nó là nhà bởi trông nó giống căn chòi tạm bợ hơn là một ngôi nhà. Những căn chòi này được làm theo kiểu nhà sàn, tức nền nhà sẽ cách mặt đất từ 2 đến 3 thước để tránh nước ngập từ hồ lên khi mùa mưa về. Họ leo lên xuống bằng những bậc thang hết sức thô sơ và tạm bợ. Anh em chúng tôi chỉ đứng ở dưới để hỏi chuyện với người dân, vì không dám leo lên khi được mời bởi chẳng đứa nào dám đặt niềm tin vào những bậc cầu thang op ẹp ấy, chúng có thể gẫy ngay khi chúng tôi leo lên. Sàn nhà và tường vách xung quanh được làm từ những thanh nứa, thanh tre hoặc may chăng là những tấm ván mỏng chắp vá. Cũng có chỗ chỉ là tấm bạt cũ kĩ, bạc màu lổm chổm với những cái lỗ to, lỗ nhỏ mà theo thời gian mưa nắng đã khiến nó mục nát, tả tơi, thê lương như chính số phận của những con người ở nơi đây. Có khi 2-3 hộ gia đình phải sống chung trong một can chòi rộng chừng vài mét vuông. Những đứa trẻ đầu trần chân đất chạy nhảy lội nước, tắm hồ suốt cả ngày, chẳng bao giờ biết tới múa lân hay bánh trung thu. Chúng cũng chưa một lần được cầm chiếc lồng đèn ông sao, hay chuyện phá cỗ đêm trăng rằm là quá đỗi xa xỉ và lạ lẫm với chúng.
Đời sống người dân đa số rất khó khăn,trẻ em thất học, có bé không có áo quần để mặc. Chúng tôi gặp và hỏi chuyện được với một bà cụ chừng 70 tuổi,khi cụ đang ngồi đan lưới. Được biết chồng bà bị tai biến giờ nằm một chỗ, nhà không có con cái. Cụ nhận đan lưới cho người ta thu nhập chẳng được bao nhiêu, có hôm chẳng được đồng nào, có khi hai hôm mới được 10 ngàn đồng. Ăn còn chẳng đủ lấy gì thuốc thang cho ông, hoặc những lúc bà đau bệnh. Dọc theo bờ hồ, chúng tôi gặp một căn chòi khác, chỉ có lợp mái che và bốn cái cọc xung quanh nằm lẻ loi giữa đồng. Hai đứa bé đang ngủ trưa say giấc trong chòi,còn ba mẹ chúng ngồi cạnh bên nghỉ trưa. Không khách sáo, họ giải bày: Hai vợ chồng trẻ nhà ở trong làng, đi làm thuê cho người ta phải đưa theo hai đứa nhỏ, vì không có tiền cho đi học. Gió thổi hắt cái nắng chói chang gắt gỏng giữa trưa vào căn chòi cứ hừng hực không ngớt,nhìn mấy đứa nhỏ mà chúng tôi không khỏi xót xa. Trước khi rời làng trở về thành phố, chúng tôi trò chuyện với bọn trẻ trong làng. Lúc đầu bọn nhóc nhìn chúng tôi bằng những cặp mắt hình chữ O,trừng trừng và lạ lẫm y hệt chúng tôi là tội phạm đột nhập vào làng. Hay là chúng đang tưởng tượng tới mấy người ngoài hành tinh cũng nên. Sau vài phút cố gắng bắt chuyện, khi được nghe nói chúng tôi sẽ tổ chức trung thu cho mấy đứa nhỏ tại đây, thì bọn chúng bắt đầu nhao nhao tỏ ra rất khoái chí và thích thú. Nghe tới lồng đèn và bánh trung thu là mấy đứa ồ lên sung sướng và cứ hỏi đi hỏi lại “Thật hả anh, có thật không? Có cả múa lân nữa ạ “? “Anh mang bóng cho tụi em chơi nữa nha, mỗi đứa một quả luôn “, “anh hứa nha “. Bọn chúng cứ sợ những gì mình nghe được không phải sự thật nên cứ phải hỏi để tin đó là điều chắc chắn sẽ xẩy ra. Rằng chúng tôi sẽ quay trở lại mang theo con lân,bánh trung thu và cả lồng đèn nữa. Đúng,rồi chúng tôi sẽ quay lại và mang theo tất cả niền tin sự mong đợi của mấy đứa nhỏ.
Rời làng trong cơn mưa chiều xối xả,chúng tôi tự hứa với lòng sẽ dốc hết sức mình đi bán, kêu gọi gây quỹ để có đủ tiền làm Trung thu cho hơn 500 em nhỏ tại đây. Chỉ mong rằng bọn nhỏ có được một cái tết trung thu vui vẻ đủ đầy, chỉ mong có thể vẽ thêm những mảng kí ức đẹp đẽ vào tuổi thơ của chúng.
Người viết: Bụi

Chó đẻ răng cưa

Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu về cây chó đẻ răng cưa, một loại cây mọc hoang rất nhiều ở nước ta và một số nước khác trên thế giới. Xung quanh cái tên kỳ lạ của cây này, luôn có những câu chuyện truyền miệng rất hay và mang nhiều ý nghĩa nhân văn. Nhưng ở đây, tôi chỉ xin giới thiệu về cây chó đẻ dưới góc nhìn y khoa.
Cây chó đẻ răng của còn được gọi là diệp hạ châu, diệp hòe thái, lão nha châu, Campuchia gọi là prak phle. Thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae.
Cây chó đẻ răng cưa là 1 loại cỏ mọc hằng năm, cao chừng 30cm, thân gần như nhẵn, mọc thẳng đứng, mang cành, thường có màu đỏ. Lá mọc so le, lưỡng lệ trông như lá kép, phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép nguyên nhưng hơi có răng cưa rất nhỏ, mặt dưới màu lơ xanh, không có cuống hay cuống rất ngắn. Hoa mọc ở kẽ lá, nhỏ, màu đỏ nâu, đơn tính, hoa đực, hoa cái cùng gốc, mọc ở đầu cành, hoa cái ỏ dưới. Hoa không cuống, hoặc có cuống rất ngắn. Đường kính quả có thể đạt tới 2mm, treo lủng lẳng dưới lá, do đó có tên là diệp hạ châu. Hạt 3 cạnh, hình trứng, màu nâu nhạt, có vân ngang.
Cây chó đẻ răng cưa mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta cũng như ở khắp các vùng nhiệt đới.
Người ta dùng toàn cây hái về làm thuốc. Mùa hái quanh năm nhưng vào mùa hạ thì tốt hơn. Thường dùng tươi, có khi phơi khô.
Nhân dân rất hay dùng cây chó đẻ răng cưa làm thuốc, giã nát với muối chữa nhọt đinh râu, mụn nhọt. Còn có tác dụng chữa bệnh gan, chữa sốt, đau mắt, rắn cắn. Ngày uống 20-40g cây tươi, sao khô sắc mà uống. Dùng ngoài không có liều lượng.
Bài viết này đã khái quát phần nào về công dụng của cây chó đẻ răng cưa. Nếu các bạn thấy hay và hữu ích hãy chia sẻ đến bạn bè, người thân để mọi người có thêm kiến thức. Chúc các bạn luôn thành công.
Hoàng Minh Trí

Cây thạch lựu

Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu đến các bạn cây lựu và công dụng chữa sán của loại cây này. Mời các bạn cùng tìm hiểu.
Cây lựu còn có tên gọi là bạch lựu, tháp lựu, lựu chùa tháp. Thuộc họ lựu punicae.
Ta dùng vỏ thân , vỏ cành, vỏ rễ phơi hay sấy khô (cortex granati) có khi dùng vỏ quả lựu phơi hay sấy khô (pericarpium granati). Vỏ, thân và rễ lựu có độc, dùng phải cẩn thận.
Cây lựu là cây thuộc loại thân mộc, cao chừng 3-4m, cây nhỏ, có khi có gai. Lá dài, nhỏ, mềm mỏng, mọc đơn, mép nguyên có khi mọc thành cụm nhưng thường mọc sole hoặc hơi mọc đối, cuống ngắn. Mùa hạ nở hoa màu đỏ tươi hoặc màu trắng (bạch lựu), mọc riêng lẻ hoặc từng xim có độ 3 hoa. Quả to bằng ngón tay. Đầu quả còn 4-5 lá đài tồn tại. Vỏ dày, ngoài da màu lục, khi chín có màu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có tám ngăn xếp thành hai tầng, tầng trên có ba ngăn, tầng dưới có ba ngăn. Các loại ngăn phân cách bởi các màng mỏng. Hạt rất nhiều, hình 5 cạnh, sắc hồng trắng.
Được trồng ở khắp nơi để làm cảnh và lấy quả. Trồng bằng cách dâm cành. Tỷ lệ ancalit thay đổi tùy theo cách bón phân.
Nếu bón bằng canxi supephotphat, tỷ lệ ancaloit sẽ là 5,5% ở rễ.
Nếu bón bằng phân amon sunfat, tỷ lệ ancaloit là 4,2 % ở cành và 6,3% ở rễ.
Vậy thì tỷ lệ ancaloit trong rễ lúc nào cũng cao hơn. Thường người ta quy định tỷ lệ ancaloit toàn phần là 2,5 %.
Bóc vỏ về phơi khô để dành. Dùng càng sớm càng tốt. Có người nói vỏ để lâu quá một năm không còn tác dụng. Nhưng còn đối với một số quan điểm khác cho rằng để giành trên 10 năm vẫn còn tác dụng, không phải chế biến gì khác.

Làm thuốc chữa sán (phụ nữ có thai và trẻ em không dùng được).
Nên dùng vỏ rễ lựu vì trong vỏ, chất peletierin, isopeletierin được kết hợp tự nhiên với tanin thành một chất không tan, tác dụng nhiều với sán ở trong ruột, ít làm mệt cho cơ thể con người khi dùng. Tuy nhiên uống cả vỏ hơi khó uống.
Nên chọn vỏ mới đào, vì vỏ tươi hiệu lực mạnh nhiều hơn do nhiều ancaloit. Khi dùng rễ khô, cần ngâm nước vài lần trước khi pha chế thì vẫn có hiệu lực chữa sán (soubeyran).j,e. De vrij đã dùng vỏ lựu bảo quản dược 13 năm để chế cao mà vẫn có hiệu lực như vỏ tươi.
Ta có thể dùng peletierin chế từ vỏ lựu. Liều dùng peletierin sunfat thường là 0,30g phối hợp với 0,40g tanin. Một số tác giả cho rằng tác dụng của peletierin có tác dụng thường kèm tới 50-60% pseudo-peletierin không có tác dụng trong trường hợp này liều dùng phải tăng lên từ 0,30-0,50 trong 24 giờ. Nhưng dùng phải rất thận trọng.
Ngoài công dụng chữa sán, vỏ rễ và vỏ thân còn dùng làm thuốc ngậm chữa đau răng, chữa đi ngoài, đi lỵ. Nhưng để chữa lỵ đi ngoài, thường dùng vỏ quả. Về công dụng của vỏ quả sẽ được giới thiệu ở một bài khác.
Ngoài ra còn dùng để chế thuộc da, làm mực.
Các đơn thuốc có vỏ lựu.
1. thuốc chữa sán theo dược thư của Pháp
Vỏ lựu khô tán vừa phải 60g
Nước cất 750g
Cần ngâm bột trong 6 giờ. Sau đó sắc còn 500g rồi gạn và lọc.
Sáng sớm, uống thuốc này, chia làm hai lần hay ba lần uống, cứ cách nửa giờ uống một lần, sau khi uống một liều cuối cùng sau hai giờ thì uống một liều thuốc tẩy. Khi uống thuốc cần nằm nghỉ, nhắm mắt vào cho đỡ mệt.
2. đơn thuốc chữa sán có thuốc tẩy
Vỏ lựu 40g
Đại hoàng 4g
Hạt cau 4g
Nước 750ml sắc còn 300ml.
Tối hôm trước nhịn đói. Sáng sớm hôm sau uống thuốc này, chia làm 2-3 lần uống. Trong khi uống cần nằm nghỉ. Đợi khi nào thật buồn đi ngoài hãy đi, khi đi ngoài thì mông nhúng thẳng vào một chậu nước ấm để sán ra hết.
Trên đây là những thông tin về công dụng chữa bệnh của cây lựu. Mong rằng qua bài viết này, các bạn có thể nhận được nhiều thông tin hữu ích về y khoa. Chúc các bạn luôn may mắn và thành công.
Hoàng Minh Trí