Hành

Hành là một loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn gia đình. Bên cạnh là một loại gia vị thiết yếu, hành còn là một vị thuốc chữa bệnh rất thông dụng, được ông cha ta sử dụng từ rất lâu đời.
Trong bài viết này, tôi xin chia sẻ những kinh nghiệm của ông bà ta trong việc dùng cây hành để chữa bệnh.
Hành hay còn gọi là thông bạch, đại thông, hành hoa, thái bá, lộc thai, hoa sự thảo, tứ quý thông. Ở Thái Lan người ta gọi hành là hom búa. Còn ở Campuchia hành có tên khtim. Thuộc họ hành Alliaceae.
Thông nghĩa là rỗng, bạch nghĩa là trắng; vì đọc cây hành (lá) thì rỗng, dò hành (củ) có màu trắng, do đó có tên này.
Hành là 1 loại cỏ sống lâu năm, có mùi đặc biệt. Lá gồm 5-6 lá, hình trụ rỗng, dài 30-50cm, đường kính 4-8mm, phía giữa phình lên, đầu thuôn nhọn. Cụm hoa mọc trên 1 cán mang hoa hình trụ, rỗng, cụm hoa hình xim có ngấn thành hình tán giả, nhưng cuống giả ngắn đến nỗi cụm hoa trông giống hình cầu. Bao hoa gồm 2 vòng, mỗi vòng gồm 3 cánh, 3 lá đài màu trắng 6 nhị, chỉ nhị phình ở gốc, bao phấn hình chữ T, 2 ngăn, dài 1mm, một nhụy, bầu thượng, 3 ngăn, mỗi ngăn có nhiều noãn. Quả nang, hình tròn đường kính chừng 6mm, hạt hình 3 cạnh, màu đen.

Hành được trồng ở khắp nơi trong nước ta, chủ yếu để làm gia vị, đồng thời dùng làm thuốc (dùng củ tức là dò hành). Còn được trồng ở nhiều nước khác tại Châu Á và Châu Âu. Mùa thu hoạch chủ yếu là vào tháng 10-11 nhưng có thể có quanh năm. Dùng tươi hay khô đều được.
Hành là 1 vị thuốc rất thông dụng trong nhân dân. Được ghi trong các tài liệu cổ từ rất lâu. Trong các tài liệu cổ này, người ta cho rằng hành có vị cay, bình mà không độc, có năng lực phát biểu, hòa trung, thông dương, hoạt huyết, dùng làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, sắc lấy nước uống chữa các chứng sốt, sốt rét, cảm, nhức đầu, mặt mày phù thũng, còn làm an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng. Vào 2 kinh thủ thái âm Phế kinh và túc dương minh Vị kinh, nhưng các sách cổ còn nói thêm rằng ăn nhiều quá thì tóc bạc, hư khí xông lên, không ra mồ hôi được.
Hiện nay, người ta cho rằng hành có tác dụng kích thích thần kinh, làm tăng sự bài tiết dịch tiêu hóa, có thể dùng để đề phòng ký sinh trùng đường ruột. Còn dùng trị tê thấp. Tinh dầu hành có tác dụng sát khuẩn mạnh, dùng ngoài chữa những mụn nhọt mưng mủ, dùng nước hành nhỏ mũi chữa được ngạt mũi, cấp tính và mạn tính, viêm niêm mạc mũi, khi bị cảm mạo, đầu nhức, mũi ngạt thì có thể dùng hành giã nát, thêm nước sôi vào rồi xông, hoặc cho hành vào cháo nóng mà ăn thì chóng khỏi.
Mỗi lần có thể dùng với liều 30-60g dưới hình thức thuốc sắc hay giã nát ép lấy nước mà uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Đơn thuốc có hành. Chữa cảm mạo, đầu nhức mũi ngạt: Hành 30g, đạm đậu sị 15g, sinh khương 10g, chè hương 10g, nước 300ml, đun sôi, gạn bỏ bã, uống khi còn đang nóng, uống xong đắp chăn kín cho ra mồ hôi.
Chữa trẻ con cảm mạo: Hành 60g, sinh khương 10g. Hai thứ giã nát, thêm 1 cốc nước thật sôi bỏ vào, dùng hơi xông vào miệng và mũi, ngày làm mấy lần, không cần cho uống.
Chữa mụn nhọt: Hành tươi giã nát, trộn với mật, đắp lên mụn, hễ ngòi ra thì dùng dấm mà rửa mụn.
Phụ nữ động thai: Hành tươi 60g, thêm 1 bát nước, sắc kỹ, lọc bỏ bã, cho uống.
Ngoài cây hành nói trên, hiện nay nhiều nước còn dùng cây hành tây hay dương thông (allium cepa L) làm thuốc. Cây này nguồn gốc miền Tây Châu Á, nhưng hiện nay trồng ở nhiều nước. Tại nước ta truóc đay có trồng, nhưng hiện nay ít trồng hơn. Cây hành tây có dò to hơn, hình cầu dẹt, ngoài có vẩy msù đỏ nâu, lá hình trụ rỗng, dài 25-50cm, đường kính 1-1,5cm, cán mang hoa có thể cao tới 1m, rỗng, cụm hoa hình tán nhưng tụ thành hình cầu màu hơi hồng hay hơi trắng, quả khô, trong chứa nhiều hạt dẹt, màu đen. Trong củ hành tây có 0,015% tinh dầu, trong tinh dầu thành phần chủ yếu là allyl-dissunfua, allyl-propyl-disunfua, ngoài ra còn có phytin, axit hữu cơ (axit focmic, malic, xitric và photphoric) các chất insulin, manit, manoza, mantoza, các men maltaza, amylaza, dextrynaza và emunxin, vitamin B và C. Nhà bác học Liên Xô cũ B.P.Tokin phát hiện thấy trong hành tây có chất kháng sinh rất mạnh, ông đặt tên là phytonxit. Do chất này, khi ta nhai hành tây trong miệng 1-2 phút, miệng sẽ trở nên sạch sẽ, vô trùng.
Ngoài công dụng làm gia vị, hành tây được dùng chữa ho, trừ đờm, ra mồ hôi, lợi tiểu tiện, dùng trong chứng bụng nước do gan cứng (ascite de la cirrhose hépatique), còn dùng đắp mụn nhọt.
Dùng dưới hình thức cồn thuốc tươi (1 phần nước ép củ hành tươi, 1 phần cồn 90 độ). Ngày uống 14-40g cồn thuốc này. Hoặc có thể dùng dưới dạng rượu vang(nước ép củ hành tươi 200g, mật ong 1100g, vang hay rượu nhẹ độ -12 độ đến 14 độ vừa đủ 1lít) . ngày uống 2 lần, sáng và tối, mỗi lần 30-60g.
Bài viết trên, tôi vừa chia sẻ đến các bạn về cây hành trong điều trị bệnh theo y học cổ truyền. Hy vọng rằng, qua bài viết này các bạn nhận được nhiều thông tin hữu ích cho bản thân. Chúc các bạn luôn hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí

CÁCH BẮT MỘT PHẦN MỀM KHỞI ĐỘNG CÙNG WINDOWS

Bạn thường xuyên sử dụng một phần mềm nào đó, và mỗi khi mở máy lên thì bạn lại phải tìm và kích hoạt phần mềm đó lên một cách thủ công. Vậy thì trong bài viết này, mình xin chia sẻ tới các bạn cách để buộc một phần mềm nào đó khởi động cùng windows nhá.
Bước 1: Bạn hãy sao chép (Copy) phím tắt (Shortcut) mà bạn muốn khởi động cùng Windows.
Bước 2: Kế đó, bạn nhấn tổ hợp phím Windows+r, gõ shell:startup vào hộp thoại Run và nhấn Enter. Thư mục Startup trong File Explorer sẽ xuất hiện ngay sau đó.
Bước 3: Bạn chỉ cần dán phím tắt (Shortcut) vào thư mục Startup, và thế là xong. Bây giờ khi bạn khởi động máy tính, bất cứ ứng dụng nào bạn đã thêm vào thư mục Startup sẽ khởi động cùng hệ thống.
Vừa rồi là chia sẻ của mình về việc buộc một phần mềm nào đó khởi động cùng Windows. Chúc các bạn thực hiện thành công.
Trường Giang.

Hàn the

Trong bài viết này tôi sẽ giới thiệu đến các bạn một loại cây có tên là hàn the. Các bạn chú ý, đây là cây có tên là hàn the chứ không phải chất hàn the đã bị bộ y tế cấm dùng trong chế biến thực phẩm đâu nhé! Chất mà chúng ta hay gọi với cái tên hàn the là muối Natri tetra borat đecahidrat, là một loại muối màu trắng, không mùi, không vị, dễ tan trong nước. Đây là một chất bị bộ y tế cấm dùng trong chế biến thực phẩm vì gây hại cho sức khỏe người sử dụng. Vậy cây hàn the và cách sử dụng trong y học như thế nào? Chúng ta sẽ được tìm hiểu qua bài viết sau.
Cây hàn the thuộc họ cánh bướm fabaceae papilionaceae. Cây mọc bò rất nhỏ, phân cành từ gốc, cành trải ra mặt đất. Lá gồm ba lá chét, các lá dưới chỉ có ba lá chét; lá chét hình trái xoan ngược, mặt trên nhẵn, mặt dưới có màu nhạt; lá kèm hình trái xoan nhọn, có nhiều vân. Cụm hoa ở nách, ít hoa, không cuống. Hoa nhỏ màu tím hồng. Quả thuôn không cuống, có 4-5 đốt. Mỗi đốt chứa một hạt.
Cây mọc hoang dại ở khăp các bãi cỏ, ven bờ ruộng ở khắp nơi trong nước ta. Còn thấy ở nhiều nước nhiệt đới vùng Đông Nam châu Á. Nhân dân toàn dùng cây tươi phơi hoặc sấy khô. Mùa thu hái gần như quanh năm.
Trong nhân dân hàn the được dùng làm thuốc uống trong chữa sốt nóng, ho có đờm. Dùng ngoài giã nát đắp lên vết thương, vết loét. Dùng trong: ngày uống 10-20 g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Trên đây là những thông tin thú vị về cây hàn the, các bạn sau khi đọc bài viết này có thể hiểu hàn the là gì? Tránh nhầm lẫn giữa hai loại này. Nếu thấy bài viết hay và bổ ích các bạn hãy chia sẻ đến bạn bè và người thân của mình để mọi người có thêm nhiều kiến thức về hàn the. Chúc các bạn luôn may mắn và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí

Gừng

Gừng là một loại cây rất phổ biến, quen thuộc đối với người Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung. Chúng được dùng làm thực phẩm, chế biến rượu bia, bánh mức và chế thuốc chữa bệnh. Vậy trong y học cổ truyền gừng được các thầy thuốc dùng như thế nào? Chúng ta cùng nhau đi tìm hiểu qua bài viết này các bạn nhé!
Gừng còn được gọi là khương, sinh khương, can khương. Thuộc họ Gừng ziniberaceae. Khương (Rhizoma Zingiberis) là thân rễ của cây gừng tươi hoặc khô. Tùy theo tươi hay khô, vị thuốc mang tên khác nhau: Sinh khương là củ (thân rễ) tươi. Can khương là thân rễ phơi khô.
Gừng là 1 loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao 0,6-1m. Thân rễ phát triển thành củ, lâu dần thành xơ. Lá mọc so le, không cuống, có bẹ, hình mác dài 15-20cm, rộng chừng 2cm, mặt bóng nhẵn, gần giữa hơi trắng nhạt, vò nát có mùi thơm. Trục hoa xuất phát từ gốc, dài tới 20cm, cụm hoa thành bông mọc sít nhau, hoa dài 5cm, rộng 2-3cm, lá bắc hình trứng, dài 2,5cm, mép răng ngắn, 3 cành hoa dài chừng 2cm, màu vàng xanh, mép cánh hoa màu tím, nhị cũng tím. Loài gừng trồng ít ra hoa. Gừng được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy củ ăn và làm thuốc, dùng trong nước và xuất khẩu.
Muốn có gừng tươi (sinh khương) thường đào củ vào mùa hạ và muà thu. Cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch là được. Muốn giữ gừng tươi lâu phải đặt vào chậu phủ kín đất lên. Khi dùng đào lên rửa sạch. Mùa đông, đào lấy những thân rễ già, cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch, phơi khô sẽ được can khương.
Ngoài 2 loại gừng trên dùng trong đông y, trên thị trường quốc tế, người ta còn tiêu thụ 2 loại gừng gọi là gừng xám và gừng trắng. Gừng xám là loại củ còn để nguyên vỏ hay cạo vỏ ở những chỗ phẳng, rồi phơi khô. Gừng trắng là loại gừng đã được cạo lớp vỏ ngoài có chứa nhiều nhựa dầu (oléorésine), rồi mới phơi khô. Thường người ta còn ngâm gừng già vào trong nước 1 ngày, rồi mới lấy ra cạo vỏ. Có khi người ta còn làm trắng bằng canxi hypoclorit, hay ngâm nước vôi hoặc xông hơi diêm sinh .
Theo tài liệu cổ: Sinh khương vị cay, tính hơi ôn, vào 3 kinh Phế, Tỳ và Vị. Có tác dụng phát biểu hán tàn, ôn trung, làm hết nôn, tiêu đờm, hành thủy giải độc. Dùng chữa ngoại cảm, biểu chứng, tinh, cua cá, đờm ẩm sinh ho. Can khương vị cay, tính ôn, bào khương (can khương bào chế rồi) vị cay đắng tính đại nhiệt. Vào 6 kinh Tâm, Phế, Tỳ, Vị, Thận và Đại Tràng. Có tác dụng ôn trung tán hàn, hồi dương thông mạch, dùng chữa thổ tả, bụng đau, chân tay lạnh, mạch nhỏ, hàn âm xuyễn ho, phong hàn thấp tỳ.
Trong nhân dân, gừng là 1 vị thuốc giúp sự tiêu hóa, dùng trong những trường hợp kém ăn, ăn uống không tiêu, nôn mửa đi tiêu, cảm mạo, phong hàn làm thốc ra mồ hôi, chữa ho mất tiếng. Gừng tươi (sinh khương) dùng với liều 3-6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha hoặc rượu gừng tươi (mỗi ngày 2-5 ml). Gừng khô (can khương) dùng khi bị lạnh mà đau bụng, đi tiêu phân lỏng, mệt lả, nôn mửa. Liều dùng cũng như gừng tươi.
Ngoài công dụng làm thuốc, gừng còn tiêu thụ mạnh trên thị trường trong nước và thế giới vì là 1 loại thực phẩm, nguyên liệu chế rượu bia (Anh và Mỹ lại thích loại bia này), mứt gừng v.v…
Đơn thuốc có gừng:
1. Chữa nhức đầu, lạnh bụng, nôn ọe, có đờm: Can khương 10g, trích cam thảo 4g, nước 300ml, sắc còn 100ml, chia nhiều lần uống trong ngày. Thấy đỡ thì uống bớt đi.
2. Đi tả ra nước: Can khương sấy khô tán nhỏ, dùng nước cơm chiên thuốc, mỗi lần uống 2-4g.
3. Đi lỵ ra máu: Can khương thiêu tồn tính. Ngày uống nhiều lần, mỗi lần 2-4g, chiêu bằng nước cơn hay nước cháo.
4. Cảm cúm, nhức đầu, ho, thân thể đau mỏi: Gừng sống giã nhỏ, bọc vào mớ tóc rối, tẩm rượu xào nóng đánh khắp người và xát vào chỗ đau mỏi.
5. Chửa nôn mửa: gừng sống nhấm từng ít một cho đến khi hết nôn.
Trong đông y, người ta cho rằng những người trong ngoài đều mệt, vì mệt mà đau bụng, vì nhiệt mà thổ huyết thì không dùng được gừng.
Qua bài viết này, hy vọng các bạn có thêm những thông tin về gừng trong y học. Chúc các bạn luôn luôn mạnh khỏe và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí