Cây sung được dân ta trồng làm cảnh. Hiện nay được nhiều người chơi cây cảnh ưa chuộng. Theo quan niệm của phong thủy học, cây sung được cho là một trong bộ cây tam đa, biểu tượng cho Phước, cùng với cây lộc vừng biểu tượng của Lộc và biểu tượng của Thọ là cây vạn tuế. Vì thế, cây sung càng có giá trị hơn trong mắt của một bộ phận lớn người dân. Trong y học cổ truyền, sung cũng là một vị thuốc quý, được nhiều thầy thuốc chọn sử dụng trong điều trị bệnh. Chúng ta cùng nhau đi tìm hiểu về công dụng chữa bệnh của cây sung qua bài viết này các bạn nhé!
Cây sung ở đất nước Campuchia còn gọi là lova. Thuộc họ dâu tằm Moraceae.
Sung là 1 cây to, không có rễ phụ. Lá hình mũi giáo, đầu lá nhọn, phía cuống hơi tròn hơn. Khi lá còn non, cả 2 mặt đều phủ lông. Khi già, lá trông cứng, phiến lá nguyên hoặc hơi có răng cưa thưa, dài 8-20cm, rộng 4-8cm. Lá sung thường bị sâu psyllidae ký sinh, gây ra những mụn nhỏ, người ta thường gọi là vú sung. Quả sung thuộc loại quả giả, do đế hoa tự tạo thành. Quả giả mọc từng nhóm trên thân cây và trên những cành to không mang lá, khi chín có màu đỏ nâu, hình quả lê. Dài 3cm, rộng 3-3,5cm, mặt quả phủ lông mịn, cuống rất ngắn.
Cây sung mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam. Muốn lấy nhựa sung, người ta băm thân cây, hứng lấy nhựa. Theo quan niệm của người xưa, thì nên lấy nhựa sung về hướng mặt trời mọc thì tốt hơn.
Đây còn là 1 vị thuốc dùng trong phạm vi dân gian. Lá sung non dùng để ăn, thường để gói nem. Quả sung cũng dùng để ăn sống hay làm dưa muối.
Nhựa sung được nhân dân coi là 1 vị thuốc rất quý để chữa bệnh nhức đầu và 1 số bệnh ngoài da (lở chốc, nhọt, sưng đau, tụ máu).
Chữa mụn nhọt bắp chuối, sưng vú: Rửa sạch mụn nhọt, lau khô nước. Nhựa sung hứng vào độ 1 chén hay hơn, bôi trực tiếp vào chỗ đau , sưng đỏ đến đâu bôi đến đó, bôi nhiều lần 1 lúc. Để tránh bôi nhiều, có thể trộn nhựa sung với lá non, giã nát rồi đắp lên chỗ đau. Nếu mụn chưa có mủ thì đắp kín, nếu đã vỡ mủ rồi, muốn lấy ngòi ra thì giã thêm 1 củ hành với nhựa và lá sung rồi đắp như trên, để hở miệng. Nếu sưng vú, đắp hở đầu vú.
Khi ngã bị xây xát, đắp thuốc phải chừa chỗ xây xát, mà chỉ đắp nơi sưng đỏ hoặc bầm tím. Thường chỉ 2-3 ngày thấy kết quả.
Chữa nhức đầu: Nhựa sung phết lên giấy bản, dán vào 2 bên thái dương. Có trường hợp, người ta dùng trong chữa tê liệt.
Có khi dùng phối hợp bôi ngoài với ăn lá non hoặc uống nhựa sung với liều 5ml hòa vào nước lã đun sôi để nguội, trước khi đi ngủ.
Chữa hen: Nhựa sung hòa với mật ong uống trước khi đi ngủ.
Trên đây là những công dụng chữa bệnh của cây sung trong y học, đã được nhiều sách thuốc có uy tín tập hợp và ghi lại. Hy vọng rằng, các bạn nhận được nhiều thông tin giá trị từ bài viết này. Chúc các bạn luôn vui và hạnh phúc.
Hoàng Minh trí
Cây rau ngót
Cây rau ngót là một loại rau ăn rất quen thuộc với chúng ta. Chúng được nhiều gia đình lựa chọn dùng làm rau ăn hàng ngày. Cây rau ngót cũng là một loại cây rất dễ trồng, ta hoàn toàn có thể trồng bằng cách giâm cành. Cây rau ngót còn được sử dụng để điều trị một số bệnh lý nhất định trong y học cổ truyền. Chúng ta hãy tìm hiểu công dụng của nó qua bài viết sau đây các bạn nhé!
Rau ngót còn gọi là bồ ngót, bù ngót, hắc diện thần (Trung Quốc).
Cây nhỏ, nhẵn, có thể cao tới 1,50-2m. Có nhiều cành mọc thẳng. Vì người ta thường xuyên hái lá , cho nên cây chỉ cao trung bình 0,90-1m. Vỏ thân cây màu xanh lục, sau màu nâu nhạt. Lá mọc so le, dài 4-6cm, rộng 15-30mm, cuống rất ngắn 1-2mm, có 2 lá kèm nhỏ, phiến lá nguyên hình trứng dài hoặc bầu dục, mép nguyên. Hoa đực mọc ở kẽ lá xanh, xim đơn ở phía dưới, hoa cái ở trên. Quả nang hình cầu, hạt có vân nhỏ.
Mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam để lấy lá nấu canh. Khi làm thuốc thường chọn những cây rau ngót đã sống 2 năm trở lên. Hái lá tươi về dùng ngay.
Lá rau ngót ngoài công dụng nấu canh, còn là 1 vị thuốc nhân dân dùng chữa sót nhau sản phụ và chữa tưa lưỡi. Cách dùng như sau:
Chữa sót nhau: hái độ 40g lá rau ngót. Rửa sạch giã nát. Thêm ít nước đã đun sôi để nguội vào. Vắt lấy chừng100ml nước. Chia làm 2 lần uống. Mỗi lần cách nhau 10 phút. Sau chừng 15-20 phút sẽ ra.
Có người dùng đơn thuốc này chữa chậm kinh có kết quả. Có người chỉ giã nhỏ đắp vào gan bàn chân (Y học thực hành, tháng 12/1960 và tháng 10/ 1961).
Chữa trẻ nhỏ tưa lưỡi: giã lá rau ngót tươi độ 5-10g. Vắt lấy nước. Thấm vào bông đánh lên lưỡi, lợi và vòng niệng chỉ 2 ngày sau là trẻ bú được.
Chữa hóc xương: giã cây tươi, vắt lấy nước ngậm.
Bài viết này đã giới thiệu đến các bạn công dụng chữa bệnh của cây rau ngót trong y học cổ truyền. Nếu thấy bài viết này hay và hữu ích, các bạn hãy chia sẻ đến những người đang cần. Chúc các bạn luôn vui vẻ và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí
Vu Lan về
Vu lan về con cài lên ngực
Bông hồng vàng báo hiếu mẹ cha
Tháng bảy mưa ngâu hay nước mắt nhạt nhoà
Của những đứa con nhớ về cha mẹ
Một nén hương thơm nồng nàn lặng lẽ
Nỗi lòng con gửi gắm những niềm thương
Dù bao năm dù có hoá vô thường
Công sinh dưỡng vẫn là công lớn nhất
Cả cuộc đời mẹ cha tất bật
Cho chúng con lẽ sống tình yêu
Đại dương bao la đâu đã là nhiều
Với chúng con cha mẹ là tất cả
Có đôi lúc
Mải mê quay với dòng đời ồn ã
Những đô hội thị thành
Những phương trời lạ
Chợt giật mình tỉnh giấc nhớ mẹ cha
( sưu tầm )
Lễ Vu Lan chính là dịp để những thế hệ con cháu tỏ bày lòng biết ơn, kính trọng và lòng yêu thương của mình với những bậc sinh thành cha mẹ, ông bà. Dẫu biết rằng đạo hiếu là luôn luôn phải làm tròn bổn phận. Thế nhưng, không biết từ bao giờ vào những ngày tháng bảy âm lịch hằng năm, đã trở thành tục lệ để chúng ta có dịp nhiều hơn nữa làm tốt hơn bổn phận và trách nhiệm của một người con. Những ngày này mọi người thường rủ nhau đi chùa lễ phật để xin bình an sức khỏe cho cha mẹ của mình. Có những người sẽ gửi tới cha mẹ những lời cảm ơn, lời nói yêu thuơng hay những món quà ý nghĩa.
Trong không khí của mùa vu lan mới về, thì chiều nay đại gia đình chúng tôi phải đón nhận một tin buồn là ba của một người bạn cùng nhà vừa qua đời. Xót xa làm sao khi từ nay mỗi mùa vu lan về, anh ấy sẽ không còn có thể nói lời yêu thương cho ba nghe nữa rồi. Mỗi mùa vu lan về anh ấy sẽ lại thật buồn vì trong đó có ngày mà ba anh lìa xa thế giới này, lìa xa anh mãi mãi.
Chiều nay Sài Gòn lại mưa, phải chăng trời cũng đang khóc thương cho anh? Khóc thương cho những đứa con không còn cơ hội báo đáp đủ đầy những công ơn sinh thành, dưỡng dục. Hay khóc thương cho những người khi vu lan về lại có một nỗi nhớ cha nhớ mẹ tới xé lòng. Vậy mà ngoài kia vẫn còn bao nhiêu đứa con vẫn đang lầm đường lạc lối, ngày ngày làm cho cha mẹ u sầu, đau thương. Hãy soi xét lại bản thân, tự hỏi đã bao giờ bạn làm tròn chữ hiếu, đã bao giờ để đấng sinh thành của bạn được một ngày an vui. Hãy lắng nghe bài hát “Đạo làm con” của ca sĩ Quách Beem để cảm nhận nhiều hơn về sự hy sinh của cha mẹ và bổn phận đạo nghĩa của một người con.
Khi đấng sinh thành sinh ta ra đời
Cảm ơn ông trời cho ta kiếp người
Phải sống thế nào để Cha đừng buồn
Phải sống thế nào để Mẹ được vui
Tình Cha bao la như núi cao ngang trời
Tình Mẹ rộng lớn như biển cả mênh mông
Chỉ mong cho ta lớn khôn nên người
Chỉ mong nhìn thấy nụ cười của ta
Người viết : Bồ Công Anh
Cây ổi.
Ổi là một loại trái cây quen thuộc với chúng ta. Ta thường dùng ổi như một loại trái cây ăn hàng ngày, có thể dùng ép lấy nước uống hoặc làm nước ép đóng chai. Bên cạnh những lợi ích về mặt thực phẩm, cây ổi còn cho chúng ta những vị thuốc dùng trong điều trị các bệnh lý. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về công dụng của cây ổi trong y học các bạn nhé!
Cây ổi còn có một số tên gọi khác như ủi, phan thạch lựu, guajava. Thuộc họ sim myrtaceae.
Ổi là một loại cây nhỏ, cao chừng 3-5m, cành nhỏ thì vuông cạnh. Lá mọc đối, có cuống ngắn, hình bầu dục, nhẵn hoặc hơi có lông ở trên mặt, mặt dưới có lông mịn, phiến nguyên, khi soi lên có túi tinh dầu trong. Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả là một quả mọng, có vỏ quả giữa dày, hình dáng thay đổi tùy theo loài; ở đầu quả có sẹo của đài tồn tại. Rất nhiều hạt, hình thận, không đều, màu hơi hung.
Cây ổi có nguồn gốc miền nhiệt đới Châu Mỹ, sau được phổ biến trồng ở khắp miền nhiệt đới Châu Á, Châu Phi. Đặc biệt ở nước ta, cây ổi mọc hoang tại nhiều nơi ở miền Bắc, nhưng nhiều người trồng để lấy quả ăn.
Ngoài ra, ổi còn cung cấp các bộ phận sau đây dùng làm thuốc: búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân, nhưng hay dùng nhất là búp non và lá non. Dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô.
Quả ổi còn xanh thì chát có tính gây táo bón và có thể chữa đi tiêu lỏng. Khi chín, quả ổi hơi có tác dụng nhuận tràng. Người ta ăn ổi chín hay chế thành mức đóng hộp.
Lá non và búp ổi non là một vị thuốc chữa đau bụng, đi ngoài (kinh nghiệm dân gian). Thường dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Ngày dùng 15-20g búp non hay lá non, dùng riêng hay phối hợp với các vị khác như chè, gừng v.v… Vỏ rễ, vỏ thân cũng được dùng để chữa đi ngoài và rửa vết thương, vết loét. Uống trong người ta dùng với liều 15g sắc với 200ml nước, nấu cạn còn chừng 100ml. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Các bạn vừa tìm hiểu những thông tin thú vị về công dụng chữa bệnh của một số bộ phận trên cây ổi. Nếu thấy bài viết này hay và hữu ích, các bạn hãy chia sẻ đến bạn bè, người thân và gia đình để mọi người có cơ hội tìm hiểu những kiến thức về y học. Chúc các bạn luôn may mắn và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí