Lời cảm ơn Mẹ

Hôm nay tôi gặp một bé gái ở chỗ làm việc, em cùng ba của mình tới mua bánh sinh nhật. Cô bé có vẻ ngoài nhỏ nhắn rất ngoan và lễ phép. Em nhanh chóng chọn được chiếc bánh ưng ý và tỏ ra rất vui mừng, có lẽ bởi hôm nay là sinh nhật của em chăng? Khi tôi hỏi hai bố con muốn ghi chữ gì lên bánh, người bố quay sang và nhẹ nhàng nhìn con gái hỏi ” Hôm nay là sinh nhật của con, con muốn ghi gì nào?” Cô bé suy nghĩ hồi lâu rồi đáp “Dạ chị ơi, em muốn ghi chữ: Con cảm ơn mẹ đã cho con cuộc sống hạnh phúc này “, rồi cô bé cười thật tươi tỏ vẻ hơi bối rối. Cả tôi và bố của em đều rất ngạc nhiên. Tôi không ngạc nhiên vì suy nghĩ của em, bởi ở cái tuổi 16 thì em đủ khả năng để nhìn nhận và thấu hiểu được sự hy sinh của đấng sinh thành. Điều làm tôi khâm phục chính là sự thể hiện tình cảm chân trọng và biết ơn ấy, để mẹ em biết được em yêu thuơng và biết ơn mẹ như thế nào. Một dòng chữ đơn giản nhưng sâu sắc vô cùng. Trong ngày sinh nhật của mình em chỉ muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới mẹ, cảm ơn mẹ đã sinh ra con để con có cuộc sống hạnh phúc này, và cảm ơn mẹ suốt chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau. Mẹ đã hy sinh suốt những tháng năm của cuộc đời mình để chăm bẳm cho con lúc thơ dại; cho tới khi con khôn lớn và trưởng thành, mẹ vẫn luôn dõi theo con, quan tâm con, lo lắng và yêu thương. Cảm ơn mẹ vì những hy sinh, nhọc nhằn, khổ đau mẹ đã phải gồng gánh chịu đựng vì con.
Con đã rất muốn nói với mẹ rằng “Mẹ ơi cảm ơn mẹ, vì cả cuộc đời này Mẹ đã luôn che chở và yêu thương con”. Câu nói tưởng chừng như đơn giản ấy mà con lại chưa một lần nói với mẹ. Con không hiểu tại sao con có thể dễ dàng nói lời cảm ơn với những người xung quanh, vậy mà khi muốn nói lời yêu thương cảm ơn với mẹ thì lại cảm thấy rất khó khăn. Phải chăng vì những quan tâm, yêu thương mẹ dành cho chúng con quá quen thuộc, đến nỗi mà mỗi đứa con đều mặc định đó là điều hiển nhiên, và cảm thấy thật xa lạ khi nói lời yêu thương với mẹ.
Các bạn thân mến! Các bạn đã bao giờ nói lời cảm ơn tới cha mẹ của mình chưa?. Nếu chưa thì hãy thường xuyên nói lời yêu thương cảm ơn tới họ nhé. Có thể bạn nghĩ rằng ba mẹ bạn chẳng trông mong những lời cảm ơn ấy, nhưng bạn đâu biết rằng họ sẽ rất vui mừng và trân quý những lời cám ơn của con cái hơn là những món quà đắt đỏ mà bạn đem về.
Người viết: Bụi

Cây cau

Tục ngữ có câu: “Miếng trầu là đầu câu chuyện” thật vậy, từ lâu đời, trầu cau đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Việt Nam. Cau được trồng rộng rãi khắp mọi miền đất nước, làm nên một nét truyền thống văn hóa rất riêng của người dân Việt. Cau còn được dùng như một vị thuốc trong y học cổ truyền. Trong bài viết hôm nay, tôi xin được giới thiệu đến các bạn về công dụng chữa bệnh của cau trong y học cổ truyền.
Cau còn gọi là binh lang, tân lang. Thuộc họ cau (palmae). Họ cau hiện có tên khoa học là arecaceae.
Cây cau là 1 cây có thân mọc thẳng, cao khoảng 15-20m, đường kính 10-15cm. Toàn thân không có lá mà có nhiều vết cũ của lá già đã rụng, ở ngọn có 1 chùm lá to rộng, xẻ lông chim. Lá có bẹ to. Mo ở bông, mo sớm rụng. Trong cụm, hoa đực mọc ở trên, hoa cái ở dưới. Hoa đực nhỏ màu trắng, thơm, gồm 3 lá đài màu lục, 3 cánh hoa trắng, 6 nhị. Hoa cái to, bao hoa không phân hóa. Noãn xào thượng 3 ô. Quả hạch hình trứng, to bằng quả trứng gà. Quả bì có sợi, hạt có nội ngũ xếp cuốn. Hạt hơi hình nón cụt, đầu tròn giữa đáy hơi lõm, màu nâu nhạt, có vị chát.
Được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy quả ăn trầu và xuất khẩu.
Trồng bằng quả, thường sau 5-6 năm mới thu hoạch.
Người ta phân biệt cau rừng (sơn binh lang) và cau nhà (gia binh lang). Cây cau rừng có hạt nhỏ, nhọn và chắc hơn. Loại sơn binh lang có nhiều ở Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa.
Trước đây (vào năm 1930) diện tích trồng cau ước lượng chừng 2.500 hecta ở miền bắc Việt Nam, chủ yếu là Hải Hưng, sau đến Kiến An, Quảng Ninh và cuối cùng đến Nam Hà, Thái Bình. Tại miền Trung, diện tích trồng trước đây ước chừng 1.400 hecta. Tại miền Nam Việt Nam, nhân dân cũng trồng nhiều ở Mỹ Tho, Bến Tre, Rạch Giá, Cần Thơ v.v…
Ta có thể dùng cau với các công dụng sau:
1/ Hạt cau thường được dùng làm thuốc chữa giun sán cho súc vật như chó với liều dùng 4g.
2/ Dùng chữa sán cho người: phối hợp với hạt bí ngô.
3/ Làm thuốc giúp sự tiêu hóa, chữa viêm ruột, lỵ. Dùng hạt cau khô, mỗi ngày 0,5-4g.
4/ Chữa trẻ con chốc đầu: mài hạt cau thành bột phơi khô hòa với dầu mà bôi. Cần theo dõi vì có độc. Nhân dân thường dùng cau phối hợp với thường sơn, thảo quả chữa sốt rét trong đơn thuốc trường sơn triệt ngược.
5/ Người ta còn dùng vỏ quả cau làm thuốc lợi tiểu với tên đại phúc bì.
Trên đây là những điều cần biết về cây cau trong quá trình điều trị bệnh. Mong rằng các bạn nhận được nhiều giá trị từ bài viết này. Chúc các bạn luôn vui và hạnh phúc mỗi ngày.
Hoàng Minh Trí

Cây ké đầu ngựa

Trong bài viết này tôi xin giới thiệu đến các bạn một loại cây cỏ mọc hoang, có lẽ rằng rất nhiều người biết loại cây này. Chúng có một loại hạt rất đặc thù, hạt có các đầu móc, có thể móc vào bất cứ đâu trên quần áo, tóc của bạn mỗi khi bạn chạm vào chúng. Gây cho mọi người không ít phiền toái. Nhưng chúng lại có công dụng rất tốt trong việc chữa các bệnh lý, mà ông cha ta đã ứng dụng từ rất lâu đời. Chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu chúng là loại cây gì nhé!
Cây ké đầu ngựa hay còn gọi là thương nhĩ (tên Trung Quốc), phát ma (Thổ). Thuộc họ cúc Asterceae. Ta dùng quả ké đầu ngựa, hay toàn bộ phần thân cây trên mặt đất của cây ké đầu ngựa, phơi hay sấy khô để làm thuốc chữa bệnh.
Ở Trung Quốc, gọi quả ké là thương nhĩ tử (Fructus Xanthii).
Cây ké đầu ngựa là 1 loại cây nhỏ, cao độ 2m, thân có khía rãnh. Lá mọc so le, phiến lá hơi 3 cạnh, mép có răng cưa có chỗ khía hơi sâu thành 3-5 thùy, có lông ngắn cứng. Cụm hoa hình đầu có thứ lưỡng tính ở phía trên, có thứ chỉ gồm có 2 hoa cái nằm trong 2 lá bắc, dày và có gai. Quả giả hình thoi, có móc, có thể móc vào lông động vật. Trẻ con vẫn nghịch bỏ vào tóc nhau rất khó gỡ ra (cắt đôi thấy ở trong có 2 quả thực).
Cây ké này mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta (đất hoang, bờ ruộng, bờ đường). Hái cả cây trừ bỏ rễ phơi hay sấy khô. Hoặc chỉ hái quả chín rồi phơi hay sấy khô.
Theo tài liệu cổ, quả ké có vị ngọt, tính ôn, hơi có độc. Vào Phế kinh, có tác dụng làm ra mồ hôi, tán phong, dùng trong các chứng phong hàn, đau nhức, phong thấp, tê dại, mờ mắt, chân tay co giật, uống lâu ích khí. Phàm không phải phong nhiệt chớ dùng. Trong sách cổ nói dùng ké phải kiêng thịt lợn. Nếu dùng thịt lợn khi uống thì khắp mình sẽ nổi quầng đỏ.
Hiện nay ké là 1 vị thuốc thường dùng trong dân gian Việt Nam, Trung Quốc để chữa mụn nhọt, nấm tóc, hắc lào, lỵ và đau răng.
Người Việt Nam và Trung Quốc thường chế thành cao thương nhĩ còn gọi là vạn ứng cao. Cách làm như sau: từ tháng 5-9, hái toàn cây về phơi khô, cắt nhỏ nấu với nước, lọc và cô thành cao mềm. Cao dễ lên men, đóng chai thường phụt bật nút lên. Khi uống hòa với nước ấm, mỗi ngày 6-8g cao. Uống liên tục từ nửa tháng đến 2 tháng.
Có thể chế thành thuốc viên, thương nhĩ hoàn như sau: Bỏ rễ, rửa sạch, cắt ngắn cho vào nồi nấu với nước sôi trong 1 giờ, lọc lấy nước, bã còn lại thêm nước, nấu sôi 1 giờ nữa, lọc và ép lấy hết nước. Hợp cả 2 nước lại, cô thành cao mềm. Khi nào lấy que thủy tinh nhúng vào cao, nhỏ lên giấy, giọt cao không loang ra nữa là được. Sau đó thêm vừa đủ bột vào, (chừng 1/3 lượng cao) trộn đều chế thành viên.
Trước khi ăn cơm thì uống. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 16-20g. Theo sách cổ, uống cao thương nhĩ phải kiêng thịt lợn, thịt ngựa sợ độc. Thực tế tại bệnh viện Giang Tây (Trung Quốc) bệnh nhân uống không kiêng thịt vẫn không xảy ra tác dụng độc nào mà thuốc vẫn có tác dụng tốt.
Thuốc cao và thuốc viên nói trên chuyên chữa lở loét, mụn nhọt.
Đơn thuốc có quả ké dùng trong dân gian để chữa đau răng như sau: Sắc nước quả ké, ngậm một lúc rồi nhổ, ngậm nhiều lần.
Mũi chảy nước trong hoặc đặc: Quả ké sao vàng tán thành bột. Ngày uống 4-8g.
Chữa thuỷ thũng, bí tiểu tiện: thương nhĩ tử, thiêu tồn tính, đình lịch. Liều lượng của mỗi vị bằng nhau, tán nhỏ. Uống với nước mỗi lần 8g, ngày 2 lần.
Chữa bướu cổ: ngày uống 4-5g quả hay cây ké dưới dạng thuốc sắc (đun sôi, giữ sôi 15 phút).
Sau đây là cách thức trồng cây ké: Trồng vào mùa xuân, làm đất bón phân cho tốt (tro, đất sông, phôtphat đều được). Đào lỗ nhỏ cho vào 3-4 hạt, mỗi lỗ cách nhau chừng 50-60 cm. Phủ tí đất lên và tưới ẩm, độ 10 ngày sau cây mọc. Khi cây cao độ 6-7cm có thể đánh trồng chỗ khác. Vào cuối hạ hay sang thu quả chín thì hái cả cây hay chỉ hái quả thôi, phơi hoặc sấy khô mà dùng hoặc nấu cao như trên đã giới thiệu.
Trên đây tôi vừa giới thiệu đến quý bạn về cây ké đầu ngựa, một loại cây rất dân dã và quen thuộc với tất cả mọi người, nhưng công dụng chữa bệnh không hề ít.
Mong rằng qua bài viết này, các bạn có thể nhận được nhiều thông tin cần thiết cho cuộc sống. Chúc các bạn luôn may mắn và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí

Cây chè

Cây chè, ở miền Nam còn gọi là trà. Từ lâu, chè đã là một nét ẩm thực độc đáo của người dân Á Đông. Hầu hết mọi người chỉ coi chè như một loại cây dùng để nấu nước uống hàng ngày. Rất ít người biết rằng cây chè cũng được dùng làm thuốc chữa một số bệnh lý thường gặp. Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu đến quý bạn đọc về tác dụng và cách dùng cây chè.
Cây chè thuộc họ chè theaceae.
Ta dùng búp và lá chè non (folium theae), sao khô làm thuốc, thường gọi là chè hương hay chè tàu. Còn họi là trà điệp.
Chè là 1 cây khỏe, mọc hoang, nếu không cắt xén có thể cao tới 10m hoặc hơn, đường kính thân có thể đạt tới mức 1 người ôm không giáp. Đôi khi cây chè còn mọc thành rừng gỗ trên núi đá cao. Nhưng trong khi trồng, thường người ta cắt xén để tiện việc thu hái, cho nên cây chè thường chỉ cao nhất là 2m. Nhiều cành đâm ngay từ gốc. Lá mọc so le, không rụng. Hoa to trắng, mọc ở kẽ lá, mùi rất thơm, nhiều nhị. Quả là 1 nang thường có 3 ngăn, nhưng chỉ có 1 hạt do các hạt khác bị teo đi. Quả khai bằng lối cắt ngăn, hạt không phôi nhũ, lá mầm lớn, có chứa dầu.
Chè là 1 cây có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc đã biết dùng chè từ 2.500 năm trước Công Nguyên, sau tới Nhật Bản và các nước Châu Á khác. Hiện nay, cây chè được dùng ở nhiều nước. Nước Liên Xô cũ cũng rất phát triển việc trồng chè.
Ở nước ta, chè được trồng nhiều nhất ở các tỉnh Phú Thọ, rồi tới Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, các tỉnh miền Nam cũng trồng rất nhiều, cụ thể như Quảng Nam, Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Đắc Lắc, Lâm Đồng.
Chè dùng để làm thuốc được hái vào mùa xuân: hái búp và lá non. Vò rồi sao cho khô giống như cách chế biến chè hương để pha nước uống của dân gian. Cho nên ta có thể dùng chè (hương hay chè tàu) làm thuốc .
Không dùng chè Đen hay chè Mạn, vì những loại chè nầy đã được cho lên men rồi mới phơi hay sấy khô.
Chè được dùng pha nước uống, làm thuốc kích thích do cafein và chữa lỵ theo như đơn sau đây:
Chè hương 100g
Cam thảo 100g
Nước vừa đủ 100ml
Cách chế: lấy chè và cam thảo đổ nước vào cho ngập. Đun sôi trong nửa giờ, sau đó lọc lấy nước. Bã còn lại thêm nước xâm xấp và đun sôi trong nửa giờ nữa, sau đó lọc lấy nước. Đổ chung cả 2 lần nước vào nhau, đun để cô đặc cho đến khi còn 100ml. Thêm natri benzôat 0,30g hoặc cho thêm 0,03g nipagin vào để bảo quản. Có thể không cho cam thảo hoặc natri benzoat hay nipagin cũng được, nhưng vị sẽ không ngọt và không để lâu được.
Mỗi ngày dùng 4 lần, mỗi lần 5-10ml. Mỗi lần điều trị cần 3-5 ngày.
Đối với người không chịu được nước chè có thể chế thành dung dịch 10% rồi thụt giữ như sau:
Lấy 10g nước chè, sắc trong nửa giờ, rồi lọc. Mỗi ngày thụt 1-2 lần, mỗi lần 100ml.
Đơn thuốc này thường chỉ áp dụng đối với người lớn. Một số người có thể mất ngủ do tác dụng của cafein. Do đó nên uống hay thụt vào sáng hoặc trưa.
Đơn thuốc này đã áp dụng có kết quả ở một số bệnh viện ở Trung Quốc và Việt Nam để điều trị các trường hợp lỵ do trùng shiga.
Trên đây là những thông tin về cách dùng, công dụng của cây chè. Nếu các bạn có phương thức sử dụng gia truyền có hiệu quả hãy chia sẻ để mọi người cùng nhau học hỏi và giúp nền y học cổ truyền ngày càng phát triển bền vững hơn. Mong rằng các bạn có thật nhiều kiến thức bổ ích từ bài viết này. Chúc các bạn luôn vui và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí