Tôi xin giới thiệu đến quý bạn đọc một loại thảo dược. Cá nhân tôi nghĩ rằng, đây chính là một món quà quý giá đối với những ai có nỗi khiếp sợ đối với các loài rắn, nhất là rắn độc. Cây này là kẻ thù truyền kiếp của các loài rắn. Từ xa xưa, người ta đã dùng loại cây này để xua đuổi rắn độc. Chúng ta hãy tìm hiểu xem loại thảo dược này là cây gì nhé!
Cây bảy lá một hoa hay còn gọi là thất diệp nhất chi hoa, độc cước liên, thiết đăng đài, chi hoa đầu, tảo hưu, thảo hà xa. Thuộc họ hành tỏi (liliaceae).
Cây bảy lá một hoa là một loại cỏ nhỏ, có dạng rất đặc biệt, sống lâu năm. Thân rễ ngắn, dài chừng 5-15cm, đường kính 2-2,5cm rất nhiều đốt, khó bẻ, vết bẻ trông như có bột, màu vàng trắng hay màu xám vàng. Từ thân rễ nổi lên mặt đất một thân mọc thẳng đứng cao tới 1m, phía gốc có một lá thoái hóa thành vẩy, bao lấy thân cây. Giữa thân có một cành lá mọc vòng gồm 3-10 lá, nhưng thường là bảy lá, cuống lá dài 2,5-3cm, phiến lá hình mác dài 15-21cm, rộng 4-8cm, đầu phiến lá nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt dưới màu xanh nhạt, đôi khi có màu tím nhạt. Hoa mọc đơn độc ở đỉnh cành, cuống hoa dài 15-30cm. Lá đài gồm năm đến mười, thường là bảy, màu xanh lá cây, không rụng. Số cánh tràng bằng số lá đài. Nhụy màu tím đỏ, bầu thường gồm ba ngăn. Quả mọng màu tím đen. Mùa hoa vào các tháng 3,4,5( vùng Sapa), mùa quả và các tháng 10-11.
Cây bảy lá một hoa được phát hiện gần đây tại các vùng núi Cúc Phương thuộc Nam Hà, Ninh Bình, Sapa (Lào Cai), Đà Bắc (Hòa Bình), Sơn Động (Hà Giang). Trước đây không thấy mô tả trong bộ thực vật chí Đông Dương. Đầu năm 1934, Péctelot có phát hiện thấy quanh vùng Sapa nhiều loại khác nhau, nhưng chưa được khai thác sử dụng.
Người ta thường dùng thân rễ với tên cao hưu, có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa đông, đào về rửa sạch, phơi khô.
Cây bảy lá một hoa còn là một vị thuốc dùng trong dân gian. Theo đông y, vị tảo hưu (thân rễ của cây bảy lá một hoa) có vị ngọt, hơi cay, tính bình không độc. Tác dụng chủ yếu cùa nó là thanh nhiệt giải độc, nhất là đối với loài rắn độc. Tại vùng Quảng Tây (Trung Quốc) dân gian có câu ngạn ngữ: “Ốc hữu thất diệp nhất chi hoa, Độc xà bất tiến gia”. Nghĩa là trong nhà mà có cây bảy lá một hoa thì rắn độc không vào được. Ngoài công dụng chữa sốt và rắn độc, vị tảo hưu còn dùng chữa mụn nhọt, viêm tuyến vú, sốt rét, ho lao, ho lâu ngày, hen suyễn, dùng ngoài thì giã đắp lên những nơi sưng đau. Ngày dùng 4-12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Chúng ta vừa đi tìm hiểu về một loại cây có hình thù đặc biệt, và quan trọng là chúng có tác dụng còn đặc biệt hơn cả vẻ bên ngoài của nó. Hy vọng rằng các bạn có thể gặp được nhiều điều thú vị từ bài viết này. Các bạn hãy chia sẻ bài viết này đến những người đang cần. Chúc các bạn luôn mạnh khỏe.
Hoàng Minh Trí
Cây bàng
Bàng là một loại cây dễ trồng, phát triển nhanh, có tán lá rộng. Chủ yếu được trồng ở các sân trường học, sân nhà để lấy bóng mát. Tuy bàng chỉ mới được trồng ở Việt Nam thời gian gần đây, nhưng nhân dân ta đã biết sử dụng bàng để điều trị một số bệnh lý. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem bàng có thể điều trị những bệnh lý gì nhé!
Bàng còn gọi là quang lang, chambok barang parcang (Cămpuchia ), badamier (Pháp).Thuộc họ bàng combretaceae.
Bàng là một cây to, có thể cao tới 25m, cành mọc vòng làm cho tán cây xòe ra như cái lọng. Lá to hình thìa, đầu tròn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông hung nhạt, phiến lá dài 20-30cm, rộng 10-13cm. Hoa nhiều, mọc thành bông dài 15-20cm, trên cánh bông hoa có lông. Quả hình bầu dục, nhẵn dẹt với hai bên có rìa hẹp, đầu hơi nhọn, dài 4cm, rộng 3cm, dày 15cm, nhẵn, cơm màu vàng đỏ, có xơ. Hạt rộng 15mm, hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu. Mùa quả tháng 8-10.
Cây bàng được trồng ở khắp nơi để lấy bóng mát. Người ta cho rằng, cây bàng vốn không có ở nước ta, mà di thực từ đảo Moluques vào. Ta thường dùng lá, vỏ cây và hạt để làm thuốc. Về mặt nguyên liệu cho dầu thì năng suất bàng thấp vì việc tách nhân bàng ra vất vả, mất nhiều thời gian và công sức. Từ 100g hạt khô chỉ tách được 23g nhân.
Tại một số vùng, nhân dân dùng vỏ bàng sắc uống chữa lỵ, tiêu chảy và rửa các vết loét, vết thương.
Ở Ấn Độ, Inđônêxia và Philipin, người ta cũng dùng như vậy. Liều dùng hằng ngày 12-15g, sắc 200ml thêm vào ít đường cho dễ uống.
Lá còn được dùng sắc uống chữa cảm sốt làm cho ra mồ hôi, hoặc lá tươi giã nát, xào nóng để đắp và chườm vào nơi đau nhức.
Hạt dùng sắc uống chữa tiêu ra máu, có thể dùng ép lấy dầu để ăn hay dùng trong công nghiệp.
Chúng ta vừa tìm hiểu những thông tin cơ bản về cây bàng. Mong rằng qua bài viết này chúng ta có thêm những kiến thức hữu ích về loại cây này. Chúc các bạn luôn vui vẻ và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí
Cây nhàu.
Tôi xin giới thiệu đến các bạn cây nhàu, một loại cây mọc rất nhiều ở miền nam Việt Nam. Từ lâu, ông bà ta đã dùng nhàu để chữa một số bệnh lý thường gặp, nhưng cách dùng của mỗi gia đình lại rất khác nhau, chưa có sự thống nhất nên tác dụng mang lại từ cây nhàu vẫn còn đang bị hạn chế rất nhiều. Trong bài viết này, tôi sẽ đưa ra những phương pháp và cách thức sử dụng cây nhàu trong điều trị bệnh, những phương pháp này đã được thống kê và kiểm duyệt kỹ càng của bộ y tế, và các nhà y khoa có nhiều kinh nghiệm. Mong rằng sau khi các bạn đọc bài viết này, mỗi người chúng ta có thể sử dụng cây nhàu một cách đúng đắn, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất có thể và tránh những rủi ro khi dùng thuốc.
Cây nhàu còn có tên khác là cây ngao, nhầu núi, giầu. Nhàu là một loại cây gỗ, cao khoảng 6-8m thân nhẵn. Thường mọc hoang ở những nơi ẩm thấp dọc bờ sông bờ suối. Cây có nhiều cành to, lá mọc đối hình bầu dục, nhọn ở đầu, dài 12-15cm. Hoa nở vào tháng 1-2. Quả chín vào tháng 7-8. Quả hình trứng, sù xì, dài chừng 5-6cm, khi non có màu xanh nhạt, khi chín thì có màu trắng hoặc màu hồng, mùi nồng và cay. Ruột quả có một lớp cơm mềm ăn được, chính giữa có một nhân cứng. Nhân dài chừng 6-7mm, ngang chừng 4-5mm, có hai ngăn chứa một hạt nhỏ .
Thấy nhiều ở các tỉnh miền nam nước ta, chưa từng thấy ở miền bắc. Theo Pételot có cả ở miền bắc. Mới đây đã tìm thấy ở vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.
Có thể trồng dễ dàng ở các tỉnh miền bắc nước ta. Người ta dùng lá, quả, vỏ, rễ làm thuốc. Rễ hay dùng nhất dưới dạng phơi hay sấy khô. Các bộ phận khác dùng tươi.
Rễ nhàu được dùng ở miền Nam làm thuốc chữa bệnh tăng huyết áp (bác sĩ Đặng Văn Hồ, khoa học phổ thông, 1-8-54). Dân gian dùng rễ nhàu sắc uống hằng ngày thay nước chè, uống hằng tháng. Một số hiệu thuốc đã chế thành cao rễ nhàu. Liều dùng hằng ngày 30-40g rễ, sắc uống thay nước chè trong ngày. Sau chừng 15 hôm sẽ thấy kết quả. Nhưng phải uống tiếp tục 2-3 tháng, sau đó uống với liều giảm xuống.
Công dụng trong dân gian: quả nhàu ăn với muối dễ tiêu, nhuận tràng, làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho, cảm hen, thũng, đau gân, đái đường (đái tháo). Có thể ăn quả nhàu nướng chín thay rễ khô để chữa lỵ.
Lá nhàu giã nát, đắp chữa mụn nhọt. Sắc uống chữa lỵ, đi ngoài, chữa sốt và làm thuốc bổ. Liều dùng 8-10g sắc với 500ml nước chia làm 2 lần uống trong ngày (chữa những người hay đau đầu chóng mặt), lá nhàu còn dùng nấu canh lươn ăn cho bổ.
Trên đây, tôi vừa chia sẻ những thông tin về cây nhàu đến các bạn. Hy vọng rằng các bạn nhận được nhiều giá trị từ bài viết này. Các bạn có thể chia sẻ bài viết này đến người thân, bạn bè để mọi người có thêm những kiến thức cần thiết trong việc sử dụng cây nhàu để điều trị bệnh. Chúc các bạn luôn may mắn và hạnh phúc bên người thân yêu của mình.
Hoàng Minh Trí
Cây mào gà đỏ
Bài viết kỳ trước tôi đã giới thiệu đến các bạn cây mào gà trắng. Bài này tôi xin tiếp tục viết về cây mào gà đỏ để các bạn tham khảo và có thể ứng dụng được trong cuộc sống hàng ngày của mình.
Cây mào gà đỏ còn có tên gọi khác là bông mồng gà đỏ, kê quan hoa, kê đầu, kê quan.
Cây mào gà đỏ là 1 loại cỏ sống lâu năm, cao từ 30cm đến 1,5m hoặc hơn. Thân cứng, có cành nhẵn. Lá có cuống, phiến lá nguyên hình trứng, đầu lá nhọn, phía gốc to rộng hơn gốc lá của cây mào gà trắng. Hoa đỏ, vàng hoặc trắng, cuống rất ngắn, mọc thành bông gần như không cuống, hình vại với mép loe ra nhăn nheo. Quả hình trứng hay hình cầu. Hạt to hơn hạt mào gà trắng.
Theo tài liệu cổ, kê quan hoa vị ngọt, tính lương, vào 2 kinh Can và Đại Trường. Có tác dụng thanh nhiệt cầm máu. Chữa xích bạch lỵ, trĩ chảy máu, những người tích trệ không dùng được. Thường được dùng như thanh lương tử.
Đơn thuốc có thanh lương tử và kê quan hoa, chữa lồi dom, ra máu: sắc cả hoa và hạt mà uống. Ngày uống 8-15g. Có thể phơi khô, tán nhỏ chế thành thuốc viên. Chia làm nhiều lần uống trong ngày.
Chữa dạ dày, ruột chảy máu, tử cung xuất huyết, lỵ ra máu, kinh nguyệt dài ngày không hết: hoa mào gà đỏ khô 10g (nếu dùng tươi 25-30g) sấy khô, tán nhỏ. Chia làm nhiều lần uống trong ngày. Mỗi lần uống 1-2g (kinh nghiệm dân gian).
Cây mào gà là một loại cây rất phổ biến, dễ trồng, có sức sống cao, lại có tác dụng chữa bệnh trong y học. Mong rằng qua mỗi bài viết các bạn có thể góp nhặt cho mình những kiến thức cần thiết. Chúc các bạn luôn may mắn trong đời sống.
Hoàng Minh Trí