Lỡ lời

Những nỗi niềm tâm sự chất chứa trong đáy lòng lâu nay, chợt dâng trào trên khóe mi của nó. Như một lẽ tự nhiên, nỗi lòng của nó giàn giụa trên đôi gò má cao và thấm ướt đôi môi mềm. Giờ đây, sau những chuyện đã qua, nó tự giam mình nơi tận cùng của im lặng và sự ân hận. Vì một lần lỡ lời, nó mất đi một người bạn. Thêm một lần lỡ lời, nó mất đi người anh em và rồi mất đi cả người thân. Sau tất cả, nó chỉ còn một mình, cô đơn trong sự giằng xé của lương tâm.
Người đời thường có câu: “Lời nói gió bay”, nhưng trong một số trường hợp, lời nói theo gió vào lòng người nghe và được giữ chặt lại, để rồi từng ngày gặm nhấm và làm tổn thương tâm hồn họ. Trong giây phút nóng giận, con người thường bị mất kiểm soát trong lời nói cũng như hành vi. Những lời nói thiếu suy nghĩ buông ra lúc đó có thể là lưỡi dao xuyên qua trái tim người nghe, và để lại vết sẹo mà thời gian không thể xóa mờ. Rồi sau giây phút tức giận, không những người nghe bị tổn thương, mà chính lương tâm của người nói cũng sẽ kiệt quệ trong sự giày vò của cuộc đấu tranh nội tâm khốc liệt.
Trong lúc nóng giận, cách tốt nhất để tránh làm tổn thương người khác là không để phút giây nóng giận ấy tồn tại. Hãy giữ không khí thoải mái và thái độ đúng mực trong các mối quan hệ. Trong trường hợp chúng ta nhận thấy cuộc đối thoại có dấu hiệu xấu đi, thì hãy khéo léo chuyển câu chuyện theo một hướng khác. Quản lý được cảm xúc của bản thân thì ta sẽ chủ động hơn trong các mối quan hệ, đặc biệt là trong giao tiếp.
Giọt lệ trên khóe mắt đã cạn dần, nó không còn khóc cho quá khứ dại dột nữa. Nó sẽ bắt đầu lại. Ừ, nó sẽ bắt đầu hàn gắn lại những vết thương lòng mà nó đã gây ra cho người khác. Nó sẽ bắt đầu học cách quản lý cảm xúc của chính mình để không còn hối tiếc vì phút giây lỡ lời./.
Người viết Thu Uyên

Cây tam thất (phần 2)

Trong bài viết kỳ trước tôi đã giới thiệu đôi nét về cây tam thất. Như đã hứa, hôm nay tôi sẽ tiếp tục giới thiệu đến quý bạn đọc công dụng và liều dùng của cây tam thất.
Theo tài liệu cổ tam thất có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào hai kinh Can và Vị. Có tác dụng hành ứ, cầm máu, tiêu thũng dùng chữa thổ huyết, chảy máu cam, lỵ ra máu, đẻ xong máu hôi không sạch, ung thũng, bị tổn thương phần mếm.
Nhân dân coi tam thất là một vị thuốc cầm máu dùng trong các trường hợp chảy máu, bị đánh tổn thương, vì ứ huyết mà sưng đau. Ngày dùng 4-8g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Dùng bên ngoài có tác dụng cầm máu tại chỗ.
Tại những nơi trồng tam thất người ta coi tam thất là một vị thuốc bổ không kém nhân sâm, có thể dùng thay nhân sâm.
Chú thích:
1. Mặc dầu tam thất được trồng ở Lào Cai từ lâu nhưng việc sử dụng trong nước hầu như rất hiếm. Phần lớn xuất sang Trung Quốc. Theo tài liệu cũ, hàng năm ta nhập của Vân Nam -Trung Quốc khoảng 15-18 tấn tam thất để rồi lại xuất sang Hồng Kông.
Gần đây mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong nước làm thuốc bổ như vị nhân sâm cho nên có tên là nhân sâm tam thất.
2. Ngoài vị tam thất chính kể trên trong nhân dân ta còn dùng một loại rễ cây nữa với tên thổ tam thất hay tam thất. Cây này đã được xác định là gynura segetum (lour.) merr. Hoặc gynura pinnatifida thuộc họ cúc asteraceae (compositae). Trồng ở đồng bằng cũng được.
Thổ tam thất là một loại cỏ sống lâu năm, cao chừng 60-90cm. Rễ và lá đều mềm, có nhiều đám đốm tím. Lá to có những thùy to cắt sâu, thùy hình mác, mép có răng cưa. Mùa thu ra cụm hoa hình đầu. Hoa hình ống màu vàng. Lá và rễ dùng làm thuốc cầm máu như vị tam thất. Có khi dùng chữa rắn cắn.
Một cây thuộc họ gừng zingiberaceae loài stablianthus thorelli gagnep. Có thân rễ nhỏ cũng được bán với tên tam thất. Cần chú ý tránh nhầm lẫn, nhất là mua giá đắt để đổi một cây trồng rất dễ và ít giá trị.
Còn một cây nữa là tam thất vũ diệp (panax bipinnatifidus).
Vậy khi mua và sử dụng chúng ta cần chọn mua những nơi có độ uy tín cao để tránh bị nhầm lẫn.
Hy vọng rằng các bạn nhận được nhiều thông tin cần thiết từ bài viết này. Nếu thấy hay và hữu ích hãy chia sẻ cho bạn bè và người thân. Chúc các bạn hạnh phúc và thành công trong cuộc sống.
Hoàng Minh Trí

Cây tam thất (Phần 1)

Từ xa xưa, người ta đã cho rằng tam thất là một vị thuốc quý có công dụng rất tốt đối với sức khỏe con người, và được xếp vào hàng sâm. Vậy tam thất có thật sự quý giá hay không?. Chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu qua bài viết sau đây các bạn nhé!
Tam thất còn có tên khác là kim bất hoán, nhân sâm tam thất, sâm tam thất. Tam thất (radix pseudo-ginseng) là rễ phơi khô của cây tam thất. Tên kim bất hoán (vàng không đổi) có nghĩa là vị thuốc rất quý, vàng không đổi được.
Tên tam thất có nhiều cách giải thích khác nhau: trong sách bản thảo cương mục ghi rằng vì cây có 3 lá ở trên, 4 lá ở bên phải, do đó có tên cây tam thất. Nhưng có người lại nói tam (3) có ý nói từ lúc mới gieo đến lúc ra hoa phải 3 năm. Thất (7), ý nói từ lúc gieo đên lúc thu hoạch rễ dùng được phải mất 7 năm. Có người lại nói vì lá tam thất có từ 3-7 lá chét nên mới có tên như vậy.
Tam thất là một loài cỏ nhỏ, sống lâu năm. Lá mọc thành vòng 3-4 lá một, cuống lá dài 3-6cm, mỗi cuống lá mang từ 3-7 lá chét hình mác dài, mép lá có răng cưa nhỏ, cuống lá chét dài 0,6-1,2cm. Cụm hoa hình tán mọc ở đầu cánh mang hoa. Có hoa đơn tính, có hoa lưỡng tính cùng tồn tại. Lá đài 5, màu xanh. Cánh hoa 5 màu xanh nhạt, nhị 5. Bầu hạ hai ngăn. Quả mọng hình thận, khi chín có màu đỏ, trong có hai hạt hình cầu.
Cây tam thất được trồng từ lâu nhưng với một lượng ít ở tỉnh Hà Giang (Đồng Văn), Lào Cai (Mường Khương, Bát Xát, Phá Lùng), Cao Bằng,… tại các vùng núi cao từ 1.200-1.500m. Cần chọn những nơi đồi núi ít gió mạnh, phải làm dàn che nắng và phải rào để bảo vệ chống chuột, sóc đến ăn củ. Đất phải được bón phân và được chuẩn bị từ một năm trước, chia thành luống dọc, cánh nhau một mét. Tháng 10-11 chọn những hạt ở những cây đã mọc 3-4 năm. Gieo ngay vào vườn ươm. Tháng hai đến tháng ba năm sau mới mọc. Một năm sau, từ tháng một đến tháng 2 có thể đào cây con, cắt bỏ lá gốc, trồng vào ruộng chính thức. Sau 3-7 năm sau mới bắt đầu thu hoạch. Thường cây càng lâu năm rễ củ càng to. Sau khi rửa sạch bùn đất, cắt bỏ rễ con, đem phơi nắng cho hơi héo, đem lăn, vò cho mềm lại, lại phơi nắng rồi vò hoặc lăn, làm như vậy từ ba đến năm lần mới phơi cho khô hẳn, có khi người ta cho vào túi gai lắc cho rễ đen bóng là được.
Gái trị thu mua căn cứ vào trọng lượng củ. Người ta chia ra:
Loại 1: 105-130 củ nặng 1kg
Loại 2: 160-220 củ nặng 1kg
Loại 3: 240-260 củ nặng 1kg
Cây tam thất còn được trồng ở các tỉnh thuộc Trung Quốc như: Vân Nam, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây. Vân Nam trồng nhiều nhất là tam thất Vân Nam được coi là tốt nhất.
Trên đây, tôi vừa giới thiệu đến quý bạn đọc về cách trồng, thu hái và phân bố cũng như phân loại của cây tam thất. Công dụng và cách dùng sẽ được giới thiệu đến các bạn trong bài viết kỳ sau. Mong các bạn đón theo dõi. Rất cảm ơn các bạn trong suốt thời gia qua đã quan tâm đến bài viết của tôi. Tôi sẽ cố gắng viết thêm nhiều bài viết mới gửi đến các bạn. Chúc các bạn, luôn may mắn và hạnh phúc.
Hoàng Minh Trí

Cây huyết dụ

Cây huyết dụ là một loại cây được trồng làm cây cảnh trang trí. Ta thường thấy bà con ở các vùng quê trồng ở hàng rào, bờ dậu. Sau một thời gian trồng thì phá bỏ đi để trồng đợt khác. Hầu hết không ai biết cách sử dụng loại cây này, mặc dù công dụng của nó rất tốt đối với sức khỏe của con người. Để tránh lãng phí một vị thuốc quý như vậy, tôi quyết định viết bài này để chia sẻ công dụng và cách dùng cây huyết dụ, để mọi người có thể ứng dụng chúng trong đời sống hàng ngày một cách hiệu quả nhất.
Ta thường thấy có 2 loại huyết dụ:
1. Lá đỏ cả 2 mặt.
2. Lá 1 mặt đỏ 1 mặt xanh.
Cả 2 thứ đều dùng được, nhưng loại có lá đỏ 2 mặt thì tốt hơn.
Cây thuộc họ thân thảo, thân to bằng ngón tay, sống dai, cao độ 1-2m. Toàn thân mang nhiều vết sẹo của lá đã rụng, chỉ có lá ở ngọn. Lá không cuống, hẹp 1,2-4cm, dài 20-35cm. Hoa mọc thành chùy dài. Bầu 3 ô, mỗi ô chứa 1 tiểu noãn, 1 vòi. Quả mọng 1-2 hạt.
Trong đông y, lá huyết dụ có tính mát, vị nhạt, công dụng làm mát máu bổ huyết, giảm đau, phong thấp, cầm máu và chữa các bệnh về máu. Sắc lá tươi với liều từ 10-15g uống mỗi ngày sẽ có tác dụng bổ máu.
Nhân dân dùng làm thuốc cầm máu, chữa lỵ, lậu, xích bạch đới. Năm 1961, bệnh viện Bắc Giang đã dùng trong những trường hợp băng huyết sau khi sanh vì rò tử cung, hoặc trong những trường hợp nhau tiền đạo, thai và nhau ra rồi còn băng huyết.
Chú ý: Không nên dùng trước khi sanh hoặc sanh rồi mà còn sót nhau, như vậy cổ tử cung sẽ co vít lại mà huyết vẫn không cầm. Liều dùng: ngày uống 20-25g lá tươi.
Trên đây tôi vừa giới thiệu đến các bạn về công dụng chữa bệnh của cây huyết dụ. Mong rằng các bạn không bỏ qua những công dụng này nếu có cây huyết dụ trong sân nhà mình. Nếu thấy bài viết này hay và hữu ích hãy chia sẻ cho mọi người để tất cả có cái nhìn đúng đắn hơn về huyết dụ. Chúc các bạn thành công trong cuộc sống.
Hoàng Minh Trí